Archive for the Tử vi lý số Category

Download – Tử vi chân thuyên

Posted in Huyền bí, Tử vi chân thuyên, Tử vi lý số with tags on 11.01.2008 by Nhật ký tình yêu

File download

File: TV_chan_thuyen_Public.7z
Filesize: 3.15 MB

Links:

download from www.filefactory.com
download from www.rapidshare.com
download from www.depositfiles.com
download from www.zshare.net
download from www.uploaded.to

Lưu ý:

1. đã remove password Print rồi ! Có thể in thoải mái.

2. phần mềm để giải nén là 7zip (http://www.7-zip.org/ – freeware)

3. chỉ cần download từ MỘT trong những link trên thôi.

Thân chủ – Mệnh chủ

Posted in Tử vi lý số on 23.09.2007 by Nhật ký tình yêu

Những tính lý của sao chủ Mệnh và Thân giống như tính lý chúng vốn sẵn có, nhưng mạnh hơn, thể hiện ra ngoài rõ ràng hơn hoặc phát huy mạnh mẻ hơn, vì vậy nên gọi là Mệnh Thân Chủ.

Như người tuổi Mùi, có Tử Phủ thủ Mệnh Vũ Khúc ở cung Tài, khi Vận đến cung Tài thì khó tránh cô độc vợ chồng ly tán, gãy đổ. Hoặc người Thân cư Tài thì khi ngoài 36 tuổi (nếu Hỏa Cục) cho dù không qua Vận ở cung Tài, Vũ Khúc ở Thân vẫn khiến hôn nhân gãy đổ, hay sinh ly tử biệt. Nếu các tuổi khác thì có thể chỉ là buồn phiền, không hợp tính thành cô độc, chưa hẳn sẽ gảy đổ hay sinh ly tử biệt, nếu không hội tụ Sát Tinh.

Tuổi Tý: sao chủ Mệnh: Tham lang, sao chủ Thân: Linh tinh
Sửu: Cự môn – Thiên tướng
Dần: Lộc tồn – Thiên lương
Mão: Văn khúc – Thiên đồng
Thìn: Liêm trinh – Văn xương
Tỵ: Vũ khúc – Thiên cơ
Ngọ: Phá quân – Hỏa tinh
Mùi: Vũ khúc – Thiên tướng
Thân: Liêm trinh – Thiên lương
Dậu: Văn khúc – Thiên đồng
Tuất: Lộc tồn – Văn xương
Hợi: Cự môn – Thiên cơ

Hai sao mệnh chủ và thân chủ có ý nghĩa gì vẫn là một vấn đề còn trong vòng bàn cãi. Có tối thiểu 3, 4 thuyết; đều xuất hiện tương đối gần đây nhưng chưa có thuyết nào được kiểm chứng thỏa đáng.

Thí dụ:
Thuyết của phái Đăng Hạ (không rõ nguồn, có lẽ hoa Nam) cho rằng trong trường hợp mệnh vô chính diệu thì coi mệnh chủ là sao cư mệnh.

Thuyết của ông Sở Tinh (Đài Loan) trong thập niên 80, cho rằng hai sao này quyết định khi nào xem âm dương là chính, khi nào xem ngũ hành là chính.

Thuyết thông thường nhất (cũng ít ai theo) là sau khi xem lá số rồi, phải xem hai sao mệnh chủ và thân chủ ở đâu, có bị phá không. Như mệnh chủ bị phá thì mệnh giảm tốt thêm xấu; thân chủ bị phá thì cung thân giảm tốt thêm xấu.

Đã gọi là “CHỦ” tất phải có ý nghĩa quan trọng, đầy đủ tất cả diệu dụng, chi phối toàn bộ xuất nhập trong đời sống (như các Thiền sư hay ví “Giác Tánh, Pháp Thân . . ” là “Ông Chủ” vậy).

Điều lưu ý thêm Mệnh Chủ & Thân Chủ đặt để theo hàng chi. Còn hàng Can (Căn!) mới là “chính gốc “, vậy tìm ra được sao Chủ theo hàng can mới thật là “Ông Chủ ” của ta vậy.

Can Chi đã định danh rồi. Nhưng có lẽ trong thuật xem sao nào “coi sóc”, “chủ trì”, họ chưa nghĩ tới cái điều đó. Mà trên bầu trời các vì sao bố trí chằng chịt, chiếu xuống nhân gian không có sao nay sao nọ thay phiên nhau làm chủ tịch như chủ tịch E.U, hết 12 năm quay trở về 1 lượt.

Ta xem như Sao thủ Mệnh, Thủ Thân có là Chính Tinh, thì cũng không chi phối hết cả lá số, mà đều do bố trí các sao cách cục thế nào chẳng hạn, ta có gọi vị ấy là vị Chủ Mệnh đi nữa cũng là ngụ ý rằng vị đó là Chính Tinh nên dẫn các sao ở cùng trong cung ấy, ứng dụng như khi tính Ngũ Hành sinh khắc, chứ ta cũng không có ý nói nó bao quát cả số mệnh. Nên Sao Chính Tinh Thủ Mệnh và Mệnh Chủ, đều 1 chữ Mệnh mà hiểu ngầm ra 2 nghĩa.

thật ra sao Chủ Tinh, sao Mệnh chủ, Thân chủ là dựa vào fái Đạo thuật. Đạo này coi mỗi tuổi chịu chi phối 1 sao nào đó. Cho nên, khi coi TV thì nên coi trọng sao đó, không fải coi sao đó ở Mệnh, mà coi nó có đắc vượng không, có được những cách cụ tốt không, dù ở đâu bất kể. Đó là chủ yếu. Ngoài ra, coi nó có đóng cung cường không.

bản thân tôi cũng kiểm chứng thấy sao chủ mệnh và sao chủ thân chẳng thấy ăn nhậu gì với mệnh thân vô chính diệu của 1 lá số, chằng thấy đúng gì cả và tôi cũng chẳng theo.(vì thấy có việc như vâỵ nên viết ra cho mọi người tham khảo thôi )

nhưng tôi lại thấy nếu mệnh thân có sao chính tinh hay phụ tinh lại khớp (vô tình có) sao chủ mệnh hay sao chủ thân thì hình như uy lực nó phát mạnh lên đặc biệt hơn số thường.

Cách xem mệnh chủ, thân chủ có rất nhiều học phái; như ông Sở Tinh người Đài Loan, tác giả quyển “Tử Vi hỉ kỵ thần đại đột phá”, cho rằng đây là những “mật mã” cho ta biết những trường hợp nào phải xem trọng ngũ hành trong cách luận tử vi (nghĩa là xem tử vi gần giống hệt như xem bát tự).

Ông Sở Tinh lập ra nguyên một học phái dựa trên cơ sở này và gây sôi nổi một thời, nhưng đến cuối thập niên 90 thì phái này không được mấy ai chú ý nữa.

Tử Vi Việt Nam khi trước (thời lập lá số chữ Nho) không hề ghi sao Mệnh Chủ, Thân chủ vào ô giữa (có bạn gọi Thien bàn, có bạn lại gọi Địa bàn) lá số, mà họ ghi vào cung có sao Mệnh chữ 2 chữ “Mệnh chủ” ghi vào cung có sao Thân chủ 2 chữ “Thân chủ” cũng ngụ ý phải xem trọng thêm 2 cung ấy, như cung Mệnh giả, Thân giả vậy.

Nói thế chứ 2 cung này cũng chỉ nên coi trọng thêm chút, chứ còn lâu mới thành cung Mệnh thứ 2, cung Thân thứ 2 được. Đồng thời họ khuyên thêm vào 2 sao ấy để tiện chú ý. Hoàn toàn không ghi vào ô giữa. Đây không fải hình thức trình bày lá số đơn thuần.

1. Sao chủ Mệnh và sao chủ Thân là gì, an như thế nào?

Sao chủ Mệnh gồm các sao: Tham Cự Lộc Khúc Liêm Vũ Phá. Sao chủ Thân gồm Linh Tướng Lương Đồng Xương Cơ Hỏa. Các sao này được an theo Địa chi (sinh năm gì thì sao chủ Mệnh/Thân là gì ).

Các sao chủ Mệnh thực chất thuộc chòm sao Bắc Đẩu theo Thiên Trung Bắc Đẩu Cổ Phật Tiêu Tai Diên Thọ và Thất Tinh Châu Ngọc Thần Chú, là sao chủ quản (như thần cai quản) trên trái đất. Nó chính là Mặt Trăng, Sao Thủy, Sao Mộc, Sao Thổ, Sao Kim, Sao Hỏa và Mặt Trời. Vị trí, thứ tự của 7 vì sao này xác định ai là chủ ai là khách, và do đó phân ra ai cai quản năm nào, phản ánh sự phối chiếu của hệ sao Bắc Đẩu lên hệ mặt trời (qua quãng thời gian được sinh ra trên trái đất)…

2. Ý nghĩa sử dụng:

Từ định nghĩa và cách an, có thể thấy: Sao chủ Mệnh / Thân thực chất là sự ứng hợp của Mệnh / Thân của đương số với địa chi (vì an theo chi năm sinh). Sao chủ Mệnh/Thân có đắc hãm hay không (dựa vào đất cung Mệnh / Thân – nằm tại đâu). Điều này cho biết cùng sao chủ Mệnh (năm sinh), mà tác đông của sao chủ Mệnh / Thân lên Mệnh /Thân số mối người khác nhau vì sự đắc hãm của các sao này.

Sự phối hợp giữa bản Mệnh/Thân, sao chủ Mệnh/Thân, Cục và đất của Mệnh còn xác định xem Mệnh đó là có gốc hay không có gốc, thọ yểu sang hèn. Vì các tầng ảnh hưởng của Địa bàn chính tinh (xoay vòng quanh Thiên Bàn), ngoài tác động lẫn nhau còn tác động lên Mệnh theo các tầng Can, Chi, Mệnh, Cục.

Tài liệu quyển thượng Số Tử vi kinh nghiệm của Cố tử vi Quản Xuân Thịnh tại trang 38 (Sách xuất bản năm 1950); có đề cập đến vấn đề sao Mệnh chủ và Thân chù như sau :

1-Thân chủ

- Tuổi Tý Thân chủ LINH TINH
- Tuôi Ngọ Thân chủ HỎA TINH
- Tuổi Sửu-Mùi Thân chủ THIÊN TƯỚNG
- Tuổi Dần Thân Thân chủ THIÊN LƯƠNG
- Tuổi Mão Dậu Thân chủ THIÊN ĐỒNG
- Tuổi Tỵ-Hợi Thân chủ THIÊN CƠ
- Tuổi Thìn-Tuất Thân chủ VĂN XƯƠNG

2- Mệnh chủ

- Tuổi Tý Mệnh chủ THAM LANG
- Tuổi Sửu-Hợi Mệnh chủ CỰ MÔN
- Tuổi Dần-Tuất Mệnh chủ LỘC TỒN
- Tuổi Mão-Dậu Mệnh chủ VĂN KHÚC
- Tuổi Tỵ-Mùi Mệnh chủ VŨ KHÚC
- Tuổi Thìn-Thân Mệnh chủ LIÊM TRINH
- Tuổi Ngọ Mệnhchủ PHÁ -QUÂN

Ví dụ : Người tuổi Hợi, mệnh chủ CỰ MÔN và Thân chủ THIÊN CƠ. Tìm sao CỰ MÔN và THIÊN CƠ đóng đâu, biên chữ Mệnh chủ và Thân chủ vào (ngày nay, các nhà Tử vi thường ghi vào giữa cung trung tâm của Lá số đê dễ theo dõi). Hai sao này can hệ ảnh hưởng rât lớn đối với cuộc đời mình

Sau đó đóan tính chất hai sao đó. CỰ MÔN (chủ tài hoa); THIÊN CƠ (chủ suy tính). Vây hai sao đó có ở Phúc, Mệnh, Tài, Quan, Di không ? Mà có hội với cách tốt không ? Nếu không đóng vào các cung kể trên mà lại đi với sao xấu, tức là Thân-Mệnh không được tốt, chịu ảnh hưởng không hay tới cuộc đời mình. Hoặc người tuổi Hợi, Mệnh lập tại Tý có CỰ MÔN; Thân cư Thiên Di có THIÊN CƠ mà gặp nhiều trung tinh đắc cách thời còn gì đẹp bằng, có thể gọi là Mệnh-Thân có hai CỰ MÔN, hai THIÊN CƠ. Ít người có được hạnh phúc gặp trường hợp này ? Có thể nói là cá nước, mây rồng gặp hội.

Sao treo

Posted in Tử vi lý số on 23.09.2007 by Nhật ký tình yêu

Lúc trước có nghe nói về vụ treo sao này và được biết nó phát nguồn từ dòng Tử Vi Phúc Tông.

3 điểm quan trọng nhất của Tử Vi dòng Phúc Tông là: Trục, Vòng Tràng Sinh bay, và đỉnh cao nhất, thủ pháp tột đỉnh của Tử Vi Phúc Tông là Treo Sao”. Nhưng không biết treo làm sao, làm sao treo, nguyên tắc nào để chọn sao mà treo …

Vừa rồi qua người quen, được đệ tử “ruột” của Giáo Sư Trần Quốc Vượng xét cho lá số và sau đó có xem qua. Trong lúc xem thì có nói cung Tài đắc Song Lộc, trong khi Tài tại Ngọ mà Hóa Lộc tại Dần, Lộc Tồn tại Hợi nên hỏi lại thì được nói đó là do treo con sao Lộc Tồn nên Tài đắc được Song Lộc. Rồi có hỏi về cách thức treo thì được trả lời đại khái là cái này thì hơi khó chỉ, nó là kinh nghiệm tích tụ lâu ngày của bản thân chứ chỉ thì hơi khó.

Không biết sao treo nó có tác dụng thế nào, ảnh hưởng ra sao, phối hợp vào luận số thế nào, và cái quan trọng nhất là cái nguyên tắc để chọn con sao nào để treo .

Lúc trước qua điễn đàn có vị nói về nó như thế này: “Treo sao là trong toàn bộ lá số tìm ra được nhiều nhất là 3 sao chủ đạo đại diện cho mệnh số của đương sự. Bên cạnh sao “chủ thể” – sao chốt – được treo còn có thêm 2 sao nữa: là một sao huyệt của sao chủ thể, còn gọi là sao rung. Khi hạn chạm tới nó là xảy ra ngay một việc gì đó, còn sao thứ ba gọi là sao đắc thất của chủ thể, quyết định được hay mất của hạn đó”

Chỉ có bấy nhiêu “Treo, Rung, Bay” thì có gì đáng ngạc nhiên đâu.

Bạn chỉ cần lấy sao chủ mệnh và chủ thân rồi treo nó vào lá số của bạn thì thành “sao treo” liền chứ gì. Thí dụ như lá số Nhâm Tuất ở trên: Chủ mệnh và chủ thân của người tuổi Tuất là Lộc Tồn và Văn Xương —-> Vậy thì bạn lấy Lộc Tồn an vào sao Văn Xương cố định trong cung tài bạch của lá số này là thành “Sao Treo” liền chứ gì ! hihi…

Treo, Rung và Bay của Phúc tông đâu có gì đặc biệt.

Xét thấy dùng sao Chủ Mệnh/Chủ Thân cũng phù hợp với trường hợp trên, nhưng nó không đơn giản vậy chứ???

Theo đệ tử của cố GS Vượng nói rằng Lộc Tồn và Hóa Lộc đều CHIẾU vào cung an Thân. Hỏi “Lộc Tồn ở Hợi mà sao chiếu về cung an Thân tại Ngọ được”, thì được trả lời là nó nhị hợp vào Quan. Rồi hỏi tiếp “nếu vậy thì Mệnh, Thê cũng có Lộc Tồn rồi”, rồi thì mới đề cập về vụ sao treo và có giải thích sơ về nó nhưng người nghe tuy cũng có hiểu biết chút chút về Tử Vi mà không hiểu gì luôn và sau đó có nói là nó không chiếu lung tung kiểu vậy được.

Như vậy không biết có liên quan gì đến sau Chủ Mệnh, Chủ Thân không nữa. Nếu chỉ đơn giản dùng sao Chủ Mệnh và Chủ Thân thì đâu có gì lạ và cũng đâu có gì cao siêu, có khó khăn gì đâu mà việc định sao treo lại “phức tạp” và cần phải trải qua sự tích lũy lâu dài.

Cứ theo cách luận của sách Đẩu Số Đàn Vi* mà suy diễn thì mệnh chủ thân chủ cũng có thể coi là hai “sao treo”. Theo sách này mệnh chủ thân chủ đều dựa vào năm sinh, như sinh năm Tí thì Tham là mệnh chủ, Linh là thân chủ. Hễ một trong hai sao này hoặc Lộc Tồn ở vào vị trí Thiên Không (trước Thái Tuế) thì -bất luận mệnh ở đâu- đều hết sức nguy hiểm. Sách ấy có hẳn 4 câu thơ Hán Việt như sau:

Giá tiền nhất vị thị Thiên Không
Thân mệnh nguyên lai bất khả phùng
NHỊ CHỦ** Lộc Tồn nhược trị thử
Diêm Vương bất phạ nễ anh hùng.

*Soạn giả Quán Vân Chủ Nhân Trương Bổn San, hai tập. Tập 1 xuất bản 1928, tập 2 xuất bản 1935.
**Sách Đẩu Số Đàn Vi giải thích rõ ràng rằng “Nhị Chủ” là hai sao Mệnh Chủ và Thân Chủ.

Trong “Tử Vi Tinh Điển” của ông Vũ Tài Lục sưu khảo có nói về 4 câu thơ trên, nguyên văn như sau:
Sách Tử Vi Đẩu Số toàn thư có ghi một câu ở mục Thái Vi phú chú giải: “Không vong định yêu đắc dụng Thiên Không tối vi khẩn yếu” nghĩa là tác dụng không vong mạnh hơn hết là Thiên Không. Nhưng trong Bí kinh lại ghi mấy câu:

“Giá tiền nhất vị thị Thiên Không
Thân Mệnh nguyên thị bất khả phùng
Nhị chủ Lộc Tồn nhược phùng thủ
Diêm Vương bất phạ, hưu anh hùng”

Nghĩa là: Trước Thái Tuế một cung là Thiên Không. Thân với Mệnh không nên gặp nó. Tử Vi, Thiên Phủ hay Lộc Tồn mà gặp Thiên Không thì kể như đi vào đất chết.

câu “Nhị Chủ Lộc Tồn nhược phùng thủ (hoặc trị thử)” theo cách giải của ông Vũ Tài Lục thấy hợp lý hơn vì Tử Vi là chủ tinh của hệ Bắc Đẩu và Thiên Phủ là chủ tinh của hệ Nam Đẩu. Hơn nữa trong câu trên, “Nhị Chủ Lộc Tồn”, nó đi liền với nhau nên càng có ý nói “Tử Vi Thiên Phủ Lộc Tồn …” hơn là “Mệnh chủ Thân chủ Lộc Tồn …”

Sách vở có nói Phủ phùng Không thì không hay, Lộc Tồn là sao Lộc nên gặp Không cũng không tốt … nhưng tại sao Phủ và Lộc Tồn kỵ Không (Thiên Không)??? Không biết có phải vì câu “Không vong định yêu đắc dụng, Thiên Không tối vi khẩn yếu”??? Nếu vậy thì Thiên Không cũng là Không Vong???

Tại hạ hỏi một anh ở diễn đàn địa chỉ rồi tới thăm Nhà văn Hà Ân tại Hà Nội (được biết tới như là cao thủ cao niên hiếm hoi của làng Tử Vi Phúc Tông). Bác đã rất già sức khỏe không tốt nhưng Trí Tuệ vẫn rất minh mẫn. Theo những gì mà tại hạ được biết Sao Treo và Sao Rung không phải là những sao chủ mệnh hay chủ thân gì đó đâu. Ngồi ở nhà Bác gần cả buổi sáng Bác nói rất ít. Tại hạ đi cùng một anh bạn anh này Bác chỉ treo một sao là Thiên Hình đồng thời là sao rung luôn!

Cần ghi rõ là quyển Đẩu Số Đàn Vi ra làm hai lần. Phần đầu năm 1928, phần 2 năm 1935. Là một trong những “bí kíp” cận đại nhưng khá cũ của làng tử vi thế giới.

Bốn câu này được tin là bắt nguồn từ Đẩu Số Đàn Vi (trong có ghi chú rõ “nhị chủ” là Mệnh Chủ và Thân Chủ), rồi sau đó tam sao thất bản, tôi đã đọc qua 3 bản khác nhau. Những gì tôi trích là từ ngay Đẩu Số Đàn Vi, còn về quan điểm thì dĩ nhiên mỗi người một ý, cứ việc giữ lấy.

Chữ Hán ngày xưa viết không chấm, không phẩy (giờ thì đã cải cách, thêm chấm, phẩy rồi) nên “Nhị chủ Lộc Tồn” hoặc “Nhị chủ, Lộc Tồn” cái nào đúng chỉ có cách đoán mà thôi.

Còn Tử Vi ngộ Thiên Không tôi chưa thấy sách nào nói là tối kỵ cả. Vả nói thế thì mâu thuẫn với cách “Tử Vi cư Ngọ vô Hình, Kỵ; Giáp Đinh Kỷ vị chí công khanh”, bởi tuổi Đinh Tỵ, Kỷ Tỵ thì Tử Vi cư Ngọ sẽ gặp Thiên Không.

các câu Phú trong Tử Vi nó không có tính tuyệt đối, nếu hội càng nhiều thì càng rõ nét hơn. Ngược lại nếu bị vài cái xấu hội lại thì giảm đi. Cũng như câu phú bác đưa ra “Tử Vi cư Ngọ vô Hình Kỵ, Giáp Đinh Kỷ vị chí công khanh”. Nếu Tử Vi cư Ngọ thì …

- Giáp: đắc Khoa Lộc + Lộc Tồn (Tuớng Ấn ==>> Lưỡng Tướng) + Quyền cư Thân (Phúc)

- Đinh: Tử Vi Lộc Tồn đồng cung (Tướng Ấn ==>> Lưỡng Tướng)

- Kỷ: Tử Vi Lộc Tồn đồng cung (Tướng Ấn ==>> Lưỡng Tướng) + Lộc Quyền

Nếu vậy, theo câu Phú trên, dù Tử Vi có bị Tuần hay không (3 tuổi – Giáp Thân, Đinh Hợi, Kỷ Sửu thì Tử Vi bị Tuần), cũng vẫn “vị chí công khanh”. Cho nên dù Tử Vi hội Thiên Không có xấu hay không, nhưng đắc được mấy cách trên cũng rất đẹp rồi.

Theo nguyên tắc, 3 tuổi Giáp Thân, Đinh Hợi, Kỷ Sửu thì Tử Vi gặp Tuần nên phải luận giảm đi một phần. Còn Tử Vi gặp Thiên Không có giảm tốt hay không thì không rõ …

Cũng như được biết thì Tử Vi miếu vượng mà bị Tuần Triệt thì giảm uy lực, nhưng trong câu Phú thì không đề cập tới. Cũng một thể ấy, nên 2 tuổi Đinh Tỵ / Kỷ Tỵ – Tử Vi gặp Thiên Không có xấu không thì cũng có thể ngoài sự đề cập của câu Phú vì các câu Phú thì đơn giản, ngắn gọn nên có giới hạn của nó khi đề cập đến vấn đề. Cho nên PL không nghĩ rằng, (nếu phải) nó không có mâu thuẫn với câu Phú trên.

** Về cách trên thì thấy tuổi Giáp có phần tốt hơn tuổi Kỷ, Kỷ tốt hơn Đinh. chọn Giáp tốt hơn vì nam giới, nam giới mà tuổi Giáp thì là Dương Nam, vậy để đắc được vòng Thái Tuế (cũng có nghĩa là không bị Thiên Không) và thuận lý Âm Dương. Còn 2 tuổi Đinh Kỷ là tuổi Âm, vậy không đắc được vòng Thái Tuế, lại phạm Thiên Không.

Sao Treo, có nhiều quan niệm về sao Treo khác nhau, nhưng có thể nói nôm na là sao chủ quan một tiêu chí hay một việc xác định nào đó . Sao treo không phải là sao chủ, cũng không phải là sao nòng cột . Nhưng muốn xác định nó, cũng có nhiều phương pháp, một trong các phương pháp hay dùng từ xưa đến nay là dùng cảm ứng nhân định . Nhưng đáng tiếc, cảm ứng thì hay sai, sự đúng đắn cũng không chắc chắn, đúng sai chỉ phân biệt được khi mà đã có thực tế của luận đoán xảy ra . Vì thế, trước thời điểm xảy ra tiêu chí luận đoán, thì sự đúng sai, hầu như bất định . Thế nhưng, qua kinh nghiệm thực tế của cổ nhân, việc xác định đúng sao treo, thường kết quả luận đoán chính xác đến bất ngờ . Nếu có sai số nào đó, chẳng qua là vì ý nghĩa của sao thường không đầy đủ và chính xác mà thôi, mà điều này lại phổ biến, bởi ý nghĩa của sao, các sách từ xưa đến nay, sự đúng sai về ý nghĩa phải được xem xét lại một cách hệ thống . Song có điều khẳng định, khi đã xác định được sao treo, dù ý nghĩa của sao có mơ hồ, đại khái và bất định thế nào, miễn là đừng có nội dung ngược, thì sự luận đoán vẫn bóc ra được bản chất của tiêu chí một cách sát sao nhất có thể, ngay cả phân tích thường lý cũng chỉ gần hơn bản chất của tiêu chí không nhiều . Còn khi đã có những ý nghĩa chính xác của sao, thì sự chính xác nhiều khi không thể ngờ đến .
Thế nhưng, đáng tiếc, việc xác định sao treo, như trên đã nói, là thật khó . Vậy thì còn có ý nghĩa gì, có thực là có sự tồn tại của sao treo hay không ?.
Quan niệm về sao treo, theo như tôi được biết thì phổ biến từ thời nhà Trần ở nước ta, nhưng xa hơn nữa, theo những gì Tôi được truyền lại thì ngay Hy Di Trần Đoàn khi giải đoán cũng đã dùng phương pháp sao Treo rồi, và những giải đoán của ông ta, ngày nay còn ghi lại, nhưng không nói ông đã dùng phwuơng pháp luận đoán cụ thể nào, mà chỉ phân tích sơ qua cách cục ứng, thì chính xác đến diệu kỳ, thậm chí chính xác và hiểu sự việc còn rõ hơn cả người trong cuộc .
Lần hồi, qua nghiên cứu, Tôi mới thấy rằng, việc tồn tại sao Treo, chỉ là hệ quả tất yếu – một trong những hệ quả tất yếu – của các quy tắc lập thành lá số và an sao trên địa bàn mà thôi . Thậm chí, đáng tiếc, trong hệ luận này, lại có thể bác lý luận về cái gọi là sao nòng cột .
Thực ra, lý luận về sao nòng cột cũng có thể thấy được sự bất cập của nó một cách trực tiếp, mà không cần đến hệ lý luận cấu trúc lá số . Thật vậy, theo đúng định nghĩa, sao nòng cột là sao có hành cùng với hành của bản mệnh . Chúng ta thấy rằng, Tử vi có 14 chính tinh, hành của chúng phân bố không đều nhau, thêm nữa, theo quan niệm coi Tử vi là đế toà, khi Tử vi ở ngôi miếu địa, không bị xung sát, nếu là nòng cột thì người mạng Thổ mới được hưởng, vậy thì rõ ràng mạng Thổ được ưu tiên tuyệt đối, đã thế lại còn hưởng thêm cả Thiên phủ . Do việc phân bố hành không đều, nên có hành như hành Hoả rất thiệt thòi . Điều này là phi thực tế, cũng là phi lý khi chúng ta biết rằng, trên căn bản nền tảng của Tử vi, không có sự ưu tiên cho bất cứ hành nào .
Thế nhưng, lý thuyết về nòng cột lại được thấy khá đúng trong luận đoán, và đặc biệt là trong vấn đề về sinh giờ Kim sà thì khá đúng đắn . Đây là một lý do thực tế, người ta cứ chấp nhận lý thuyết này mà dẫu có nghi ngờ cũng ít chịu khó đào bới, rồi dần cho nó thành phương pháp, để khi luận đoán là cứ dùng nó để tìm sao và cách cục ứng hợp với tiêu chí, đặc biệt là khi nghiệm lý . Chỉ đến khi, nếu chúng ta dùng thường lý phân tích để tìm cho ra bản chất của biến cố, sau đó mới nghiệm lý thì mới thấy bất cập .
Sao treo, nền tảng lý thuyết của nó bao trùm cả lý thuyết về sao nòng cột, nó có những bổ sung xác đáng, khắc phục được những bất cập của sao nòng cột gây ra . Nhưng tìm sao treo, lại không phải xuất phát từ sao nòng cột, mà phải xuất phát từ những nguyên tắc cấu trúc an sao và cấu trúc của địa bàn lá số .
Trong ví dụ của đại gia lâm nạn này, sao Treo là Phục binh . Thân cư Thê, sao Treo sẽ ngự trên hai cung, một là toạ Thân, hai là ở Thê . Sao Phục binh, vốn là Tiểu nhân . Phù Thịnh chứ không phù Suy, nên có tính a dua, khi mạnh thì theo, khi bại thì phản, nên nó rất nhạy cảm với Vận . Thê lại xung chiếu với Quan, nên Phục binh trực chiếu, là mối lo trong tim gan của sụ nghiệp .
Phục binh tại Thân, hội Đào Riêu cho thấy người này chẳng chung thuỷ chút nào, hay vụng trộm, nếu ở xã hội nam nữ không bình quyền, việc năm thê bảy thiếp là đương nhiên thì Phục Đào Riêu không đáng để bị lên án, nhưng cái khó là Mệnh chủ có Thất sát cương quá, thì khó chịu về sự ăn vụng của mình, nên chỉ muốn trêu ngươi với vợ, tuy là úp úp mở mở, nhưng chỉ là che đậy thiên hạ, chứ với vợ thì ông ta đâu có ngán . Nhưng Phục binh thì vẫn là Phục binh, bởi thế, mãi năm 1994 ông ta mới bỏ DNNN, và vẫn là ĐVCS, nên không thể bồ nhí hoành tráng được, tình trạng vẫn là vụng trộm, và cái vụng trộm mà lại ngông ngênh, nửa ăn vụng, nửa phô trương thì tránh sao khỏi tan vỡ hạnh phúc, và sao Treo này lại cho thấy tình trạng khó xử, tính vụng trộm của số đào hoa này .
Thê cung có Phục binh, lại dính thêm Cô Quả thì vợ đau khổ lắm, đêm trong đèn mắt mở trừng trừng “nhìn” ông chồng hú hý với cái “con mất dạy nào đó” mà đau khổ, thì còn thiết gì nữa, đau quá thì hoá thù, dù là ân nghĩa đi nữa . Thì cái tiểu nhân của Phục binh làm sao bỏ qua mà tha cho ông này, nó như bó rơm khô, chỉ cần mồi lửa nhỏ là bùng cháy dữ dội, vì thế, chỉ đợi khi nhập vận, có điều kiện là bùng cháy, – đó chính là ý nghĩa của sao Treo .
Thê cung người này có Quan Phúc, đã được ông trời mách bảo, đã dính Phục binh, thì ăn vụng là đương nhiên, nhưng phải biết chùi mép, phải thương lấy vợ, phải chịu nhún, nếu phải thiệt thòi thì cũng phải chấp nhận, không thì đến khi to chuyện, vỡ lở, vẫn phải chịu nhún, thua thiệt với vợ, chứ có thoát đâu . Nay thì ôi thôi !vẫn phải nhún với bà ta, mà sự nghiệp cơ đồ cũng vẫn bị thâp phần nguy nan – Phục trực chiếu Quan là vậy đó . Trong Tử vi, người xưa đưa vào các hệ sao có tính chất cứu giải, nhưng muốn nắm được nó, phải hiểu tường tận lý của an sao và lý của cấu trúc lá số, rằng phải hiểu thế nào là Bản mệnh, tại sao người ta không ghi là Mệnh mà lại phải ghi là Hành của Bản mệnh, rồi Cục nữa, phải hiểu Cục chi phối về cái gì với Mệnh, hành của bản Mệnh chi phối lên chuyển vận của sao hay cách cục thông qua cái gì, phải “bắt” được sao treo, mới thấy hết được những cứu giải, cứu ra sao, cứu vào đâu của Mệnh . Rồi từ đó, mới thấy cái Đạo nó ngấm vào đời sống của chúng ta được chiếu trên Tử vi như thế nào ?.
Đại vận và LN đại vận này, sao Treo của đại gia nọ chính là Liêm trinh, có thế mới dính đến luật pháp, công quyền, và cái đó mới là đáng sợ, chính Phục binh châm ngòi cho Liêm trinh phát nổ . Đáng tiếc, nó lại nằm ngay trong vận, nên cứu giải không thể trông chờ trực tiếp ở vận, mà phải trông vào cái lý hoàn Không ở Mệnh của ông ta . Biết được thì gỡ qua nạn này chẳng khó gì, chỉ ngại nạn sau mà thôi, qua đại vận này, ông ta mới giác ngộ, thật cũng là muộn mằn .

sao treo chính là sao có thể thay đổi cục diện hoặc tương quan lực lượng trong một lá số tử vi, vì trong một lá số ở các cung bao giờ cũng có những thế lực đối kháng với nhau, mạnh thì được, yếu thua, giữa các thế lực này luôn có nhưng sao có thể làm thay đổi tương quan lực lượng, biến lá số thành bài toán mở, đó là sao treo. Cũng giống như đi tìm dụng thần trong tử bình.

Thế nào gọi là “ăn” ? Chính yếu “ăn ” là được hưởng, thí dụ mệnh Mộc có Thái Âm cư Thê tức đuơng số ăn vào thê, được lợi về vợ . Nếu lại là người mạng Hỏa lại bị khổ sở vì Thái Âm hành Thủy . Một lá sô quen biết, mạng Hỏa cung Quan có Thái Duơng lu mờ bởi Tuần Triệt, bên kia có Thái Âm sáng chiếu qua làm anh ta khó chịu thêm thôi (tự ái đàn ông mà) . Người ngoài cho rằng Âm sáng thì vợ giỏi khôn ngoan hiền thục : đúng vậy, nhưng xét về mặt “ăn” thì không vui chút nào, có vẽ hưởng bề ngoài nhưng bề trong khổ sở ! Điều này được các tiền bối trong miền Nam phẩm bình trong các bài xa xưa !

Còn 1 nghĩa của chữ Ăn, đó là kiếm cho được một sao hay cách bộ nào đó làm nồng cốt cho mình lỡ khi trong tam hợp mệnh không có những sao cùng hành hay trợ sinh cho mệnh . Đó là lí thuyết định sao ăn vào, tức ứng vào mệnh . Dĩ nhiên các cụ VN biết thừa sao bản mệnh nằm trấn ngay cung mạng sẽ làm chủ nhân của người đó, không thể chối cãi được nhưng có làm lợi cho người đó hay không thì phải xét về ngũ hành . Người Hỏa gặp Cự Môn rất lao đao, khó lòng phú quí, có khi khổ sở ! Đâu khác gì Mộc mạng cư Dần Mão trúng Thiên Hình, trước khi làm thẩm phán luật sư e rằng cũng bị tai bay vạ gió hỏi thăm mình rồi.

Vì vậy đừng ngạc nhiên khi thấy một số cụ ngày trước (trong đó có Thiên Luơng) cho rằng khi tam hợp mệnh không có sao chánh cùng hành / trợ sinh với mệnh thì cho là VCD . Chúng ta phải hiểu rằng các cụ đó có ý phê lá số kém, không so được với tiêu chuẫn đề ra là kiếm cho được sao đồng hành ! Dĩ nhiên kiếm được sao đồng hành nhưng lại là hãm và lại là sát tinh thì cụ cũng biết đó là sự oan nghiệt áp đặt cho đuơng số, là những gì độc hại vô bờ bến !

Khái niệm về Tửvi

Posted in Tử vi chân thuyên on 21.08.2007 by Nhật ký tình yêu

CHƯƠNG 2:

 

TỬ VI VÀ TƯ DUY CỦA NGƯỜI VIỆT (TỬ VI CÓ NGUỒN GỐC TỪ VĂN HOÁ VIỆT)

 

 

1. Khái niệm v Tửvi:

 

 

Để hiểu được nguồn gốc ca Tửvi trước tiên chúng ta phải  hiểu thc chất Tửvi là gì?

T vi nhân sinh quan. Tử vi không phải huyền bí. Tử Vi sự th hiện nhng hiểu biết ca con người v cuộc sống trong thế giới ca mình qua những qui tắc âm dương ngũ hành, bao gm tất c nhng gì đơn giản nhất  cũng  như  huyền  bí  nhất  mà  con  người  đã  nhận  thức  được  trong  quá trình sống ca mình. Đó thể ch đơn giản chuyện cưới xin, sinh đẻ,

di  chuyển,  kiếm  tiền  hay   chuyện  thần  linh  ma  quái,  thay  cung  đổi

 

mệnh…….Trong thế giới ca mình, con người nhận biết được điều thì đưa

 

vào trong T vi. d ngoài đời thực con người cho rằng ma quái thần linh thì trong tử vi ma quái , thần linh (Thiên diêu, Thanh long, Cô thần - Qu tú, Thiên giải); ngoài đời thực con người hình tù, giam hãm thì trong T vi hình tù, giam hãm (Thiên la - Đa võng, Thiên hình, Thái tuế, Quan phủ , Quan phù, Trực phù, Liêm trinh); ngoài đời thực chuyện cưới xin trai gái thì trong T vi cũng chuyện cưới xin trai gái ( Đào hoa, Hồng loan,  Hỷ  thần,  Thiên  h,  Long  trì,  Phượng  các,  Thai  );  ngoài đời       thực  có chuyện đi xem bói, thầy i ngăn trở khuyên không nên cưới, hoặc không nên làm việc n việc kia thì trong t vi (Thanh Long, Hoá K); ngoài đời thực chuyện lễ bái, thay cung đổi mnh thì trong T vi (Thanh Long, Hoa Cái)…Tất c nhng yếu tố đó đã được biểu tượng hoá bằng các “sao” trên số Tửvi theo những quy luật vận hành nhất định. Những th hiện trong Tửvi cũng chính những điều rất quen thuộc trong đời sống ca mi người dân Việt Nam chúng ta từ rất lâu đời, quen thuc đến mức bình dân

 

 

18


Tửvi Chân thuyên 2006

 

 

nhất, bình dân thành những các câu ca dao, tc ngữ, thành ngữ tổng kết kinh

 

nghiệm ng x trong cuộc sng….Trong mi số Tửvi không ch đơn thuần

 

thông tin ám ch số mnh ca mt con người mà còn chứa đng c văn hoá, cách tư duy ca người Việt.

Hiện  nay   nhiều  tông  phái  Tửvi   cũng   nhiều  tài  liệu  viết  vnguồn gốc ca Tửvi nng môn Tửvi bắt nguồn từ đâu? Ai người khai sáng ra nó, cho đến nay vẫn chưa tìm được chng c xác thực s sách cũng không ghi lại ràng. Nhng người nghiên cứu Tửvi thường ch chú ý đến việc giải đoán Tửvi hơn đi tìm hiểu lch sử. Bởi vậy cho đến lúc này, lch sử môn Tửvi vẫn còn lờ mờ. Thậm chí người còn nhầm lẫn Tửvi với những chuyện truyền k hoang đường. Còn lại phần lớn đều cho rằng đây

sản phẩm văn hóa ca Trung Hoa cổ đại do Trần Đoàn7  sáng tạo ra còn

 

th Trần Đoàn như lão t, mi khi xem số cho người khác đều thắp hương khấn vái đ cầu mong mt sự linh ứng. Nhưng việc coi Trần Đoàn người phát  kiến  ra  môn  Tửvi  thì  cũng  chưa   bằng  chứng  xác  thực,  tất  c đu mang tính truyền thuyết hoặc có phần hư cấu.

Có nhiều luận thuyết vngun gốc ca Tửvi, nhưng chính xác nhất thì

 

cần phải tìm về ci nguồn duy trong môn Tửvi. Chức năng quy định cu tạo nhưng nền tảng duy cũng p phần quy định sự cấu tạo phương pháp sử dụng, tạo ra sự khác biệt giữa nhng nền văn hoá. điều d nhn thấy nhất đ hiểu sử dụng tt Tửvi trước tiên phải sự hiểu biết vvăn hoá Việt Nam, hiểu li duy tổng hợp biện chứng (coi trng quan hệ cac sự vật hiện tượng), linh hoạt ca người Việt Nam.

Loạn thầy tướng số

Posted in Tử vi lý số on 14.06.2007 by Nhật ký tình yêu
ảnh
Xem tay tại chợ Hòa Khánh. Ảnh: Tuổi Trẻ.

Sau một ngước mặt lên để xem khuôn mặt, chủ nhân được “thầy” phán: “Mặt con phải xăm chân mày hình chữ Â mới giữ chân được chồng không đi trăng hoa”.

Gần đây, TP Đà Nẵng rộ lên nghề coi tướng số, bói toán. Phần lớn các thầy bói đều hành nghề kiêm nhiệm đủ mọi ngành nghề: hớt tóc, gội đầu, cân điện tử, bán vé số, buôn hàng rong ở chợ, bán thuốc nam, thuốc bắc dạo…

Không khó để tìm nhà thầy bói nữ tên Giang nằm trong hẻm đường Ngô Gia Tự. Bên ngoài cánh cửa căn phòng chỉ vỏn vẹn 3 m2 là biển hiệu cạo mặt, vẽ, đắp và sơn móng tay chân.

Thầy vừa lấy viên phấn cạo mặt xoa vào lòng bàn tay vừa bảo khách đưa chân lên song song với bàn tay. Sau một hồi, thầy phán một lèo: “Số con không được sinh con vào tháng… năm vì sẽ khắc với chồng. Nếu không, khi đứa con ra đời thì cha nó sẽ… chết”. Lấy 30.000 đồng tiền công xong, thầy với theo một câu: “Hôm sau có gì cứ đến thầy coi tiếp”.

Trong một căn phòng trên đường Nguyễn Phước Nguyên và Hà Huy Tập, cũng là phòng hành nghề thẩm mỹ. Sau một hồi chủ tiệm bảo ngước mặt lên để xem khuôn mặt, “thầy” phán: “Mặt con phải xăm chân mày hình chữ Â mới giữ chân được chồng không đi trăng hoa”. Rồi nhìn khuôn mặt cô bạn kế bên chỉ: “Còn con phải xăm chân mày vòng cung mới làm ăn phát đạt”.

Mỗi lần xăm chân mày theo ý của “thầy” phải bỏ ra cả trăm ngàn, còn hậu quả sau này thì người xăm tự chịu. Nhiều chị em vì muốn giữ chân chồng đã nghe theo lời người coi tướng số để rồi vừa xăm môi ngày hôm trước, ngày hôm sau đôi môi mọng đỏ đã tím bầm vì không chịu nổi những mũi kim làm đẹp.

Ăn theo mùa thi của sinh viên, tại khu vực Trường ĐH Kinh tế Đà Nẵng (phường Mỹ An, quận Ngũ Hành Sơn), một “thầy” xưng tên Thành, hành nghề cân điện tử dạo luôn thường trực ở những nhà trọ để chèo kéo các nữ sinh viên coi bói.

Thầy bày cách cho sinh viên mua hoa, bảy ngọn đèn cầy (đối với nam) và chín ngọn (đối với nữ), một con gà trống tơ để cúng ông địa mới mong vượt qua mấy môn kinh tế chính trị, triết học. Nhiều sinh viên vốn không tin vào bói toán nhưng khi nghe bạn bè rủ rê, nhất là các bạn gái rỉ tai nhau, là xúm lại vây quanh để thầy bày cách “vượt vũ môn”.

Các ngón nghề quen thuộc thường thấy của “thầy” là hỏi han tên tuổi, ngày, giờ, tháng, năm sinh, rồi xòe bàn tay ra để tìm đường chỉ tay. Có “thầy” đã có đội ngũ tay chân làm mạng lưới đi điều tra gia cảnh và cá nhân của từng khách hàng.

(Tên nhân vật đã được thay đổi)

(Theo Tuổi Trẻ)

Sát Phá Liêm Tham tốt xấu khi nào

Posted in Tử vi lý số on 04.06.2007 by Nhật ký tình yêu

Một câu hỏi ngắn gọn trở thành một vấn đề phức tạp vì liên hệ với biết bao thứ lí thuyết và còn tùy vào chủ quan của nguời giải nữa. Đời nguời thiệt là phức tạp, chỉ trừ khi toàn là các sao xấu tập trung trong Mệnh Thân thì dễ nói, còn chỉ thấy bộ Sát Phá Tham hãm rồi nói là xảo trá thì có khi oan cho nguời mang số. Trong gần 20 năm nay suy nghĩ nhiều các cách sắp đặt trong lá số chỉ riêng cho các chính tinh không thì cũng đã đau đầu vì đâu biết dùng gì mô tả cho đúng chân tuớng của Sát Phá Liêm Tham để nói đâu là nguời anh hùng võ giỏi tài ba, còn đâu là lêu bêu, chơi bời, tuớng cuớp đứng đuờng. Rồi lại hỏi mình một câu, “Thế Sát Phá Liêm Tham hãm có cơ hội nào hoàn luơng, được uốn nắn mà trở thành phần tử hữu ích tức phản vi kỳ “đang hung hoá cát ” hay không ? “. Chủ đề phân định tốt xấu bao la và rộng lớn, xin chỉ bàn trong khuôn khổ nhỏ bé của trang Web cùng với kiến thức / kinh nghiệm cũng còn giới hạn.


Sát Phá Tham là tam giác sắt, chủ sự. mạnh bạo, cuơng cuờng vì đây là ba ngôi sao võ tuớng. Nào Thất Sát cầm kiếm oai nghiêm khi ở Dần Thân Tý Ngọ, nào Đao Thần Phá Quân chí lớn vẫy vùng muốn soán thiên tại Tý Ngọ, nào Tham Lang tại tứ mộ cũng Tướng Tướng chi danh chẳng thua gì hai nguời anh em Lương Sơn Bạc kia.

Thất Sát thì anh hùng, quả cảm, ít có đánh nguời ngã ngựa, khí thế sắc bén như thanh Ỷ Thiên kiếm ngày xưa mưu đồ mộng Bá Vuơng (vua Quang Trung co cách Thất Sát cư Thân đệ nhất cách mà nguời anh hùng áo vãi Tây Sơn đứng đầu vì đắc Tứ Linh, Menh Kiem Phong Kim) .

Phá Quân cũng tài hoa văn nghệ, cũng anh hùng vô địch tại cái biển cồn dậy sóng Tý Ngọ thì mang tên Phục Ba Tuớng Quân (Ba = sóng). Còn ai hơn đuợc Hán Thọ Đình Hầu Quan Công nguời anh em kết nghĩa vườn Đào – cùng với Lưu Bị và Truơng Phi bộ ba anh hùng sống chết có nhau để rồi Quan Công nhất định phò nhị tẩu trong lúc khó khăn và cũng hết lòng vì Lưu Bị mà từ khuớc sự trân trọng bậc nhất của Tào Tháo dành cho vị dũng tuớng này. Trong cuộc đời LND thì đã gặp 2 nguời có Phá Quân cư Tý – một nguời anh hùng ngay cả trong giới hắc đạo, cho dù xuống dốc cũng cam lòng trở thành vô sản để không phải mang tiếng giựt dọc gian xão (mệnh trúng Đào Không nên cuộc đời lên thì nhanh nhưng xuống cũng giống như chim bay trúng đạn), còn nguời thứ hai thì đuợc Triệt kềm chế thì cũng hào hoa anh tài như ai, thích phiêu lưu mạo hiễm trong giới hạn nên không bị gẫy đổ lớn như nguời Thiên Không kia. Ngoài ra còn một nguời thứ ba có cái tên cũng rền vang nơi quán Huyền Bí, với võ công cao cuờng, cứ nghe tên Trai Việt thì phải biết hào hùng tới mức nào, cũng là một Phá Quân đã lên ngôi tại Ngọ nhưng ôm Song Hao thì phải rất cẫn thận vì nguy hiễm chực chờ – mầm hung hoạ sẽ ló đuôi ở một lãnh vực nào đó. Nên nhớ Sát Phá Tham rất kỵ gặp Song Hao cho dù hai sao này ở bất cứ vị trí nào.

- Thất Sát gặp Song Hao thì là điềm kiếm gẫy, tang thương chực chờ.

- Phá Quân gặp Song Hao thì bị ứ nuớc thành vỡ đê cạn láng (cung ĐIền gặp cách nay thì xấu lắm ),hung hoạ gần kề.

- Tham Lang gặp Song Hao thì trở thành hung bạo, phá hoại từ bên trong, tham dâm vô độ đến kiệt sức mà chết.

Tham Lang hoá khí thành nguời đào hoa, dục vọng đầy tràn, tại tứ Mộ thì chờ khi đất kết tinh mà phát, giương cờ đánh trống. Cùng với Hoả Linh thì cũng nổi danh thiên hạ. Nếu ở Sửu Mùi thì đuợc bộ Âm Duơng giáp hai bên thì vừa quí vừa phú (học giả Hồ Hữu Tuờng có cách này). LND cũng quen thân một nguời có Tham Lang tại Tuất đuợc Khoa Hoa Cái hỗ trợ nên đặng phần học hành, cũng vinh danh như bất cứ ai, thân ôm Phá Quân ngộ Triệt nên bị cản trở đôi chút mà lúc nào cũng phải cố gắng mà kết quả gặt hái không thù lao xưng đáng cho mình (Thiên Mã Mộc phá mạng Thổ).

Ủa nãy giờ Hoa hỏi về Sát Phá Liêm Tham hãm có xảo trá hay không mà !
Bây giờ bàn về thằng Liêm Trinh hai mang không rõ phe nào ! Xấu tốt hỗn độn như con cắc kè đổi màu !

Trước giờ thấy nói đến Tử Phủ Vũ Tuớng mà chẳng động đến Liêm Trinh có khi gia nhập vào hàng ngũ chính phái mà đứng giúp coi sóc giấy tờ sổ sách cho thừa tuớng Thiên Phủ tại Thìn Tuất thì lão Liêm đó khá ngoan , là nguời hữu dụng. Còn khi Liêm Trinh đuợc vua sai ra trận chiến, đứng cạnh điểm quân cho Thiên Tuớng quyết chiến chống lại Phá Quân tại Tý Ngọ thì Liêm cũng là người tài giỏi, làm tham mưu duyệt xét tình hình quân sự cho Tuớng truớc khi xuất trận. Rõ ràng Liêm thuộc phe Bạch Đạo. Nhưng hỡi ơi nhìn cái bản mặt hung hăng của Liêm, ham danh khắc nghiệt khi ở cùng với Phá Quân thì tính cách hung bạo của bộ Liêm Phá ít có ai chịu nổi – là thứ du côn, ngang nguợc và xảo trá. Thì Liêm thành thứ a dua, tàn ác thích hành hạ nguời khác. Nếu còn không tin LND thì hãy liếc qua hai cung Tị và Hợi xem gặp cách Liêm Tham ăn chơi khét tiếng, đa lãng đãng, trai chơi bời, gái đĩ điếm vì hai sao này ôm đầy tính dâm dục hạng nặng. Tham Lang là phường bạc bẽo chỉ cần lấp loáng bóng Không Kiếp thì mang tiếng tình lang phản bội (vì ít khi thoả mãn nổi chàng đòi hỏi thú tính) thì Liêm Tham cho dù đắc tại Dần Thân thì cũng biến thành cái tuồng hái hoa bắt buớm trong phòng đó (chứ không phai là hái hoa bất buớm nhông nhông ngoài đồng như LND) . LND quen 3 nguời có cách Tham Lang Dần Thân. Người tốt số nhất thì muốn làm tôn sư bói toán, thủ đoạn mập mờ, ham danh, ăn gian trong giải đoán, thích chê bai các thầy đi truớc, nhờ các DH đẹp mà đăng tiền đăng danh thì càng nghĩ mình đuợc sứ mạng cao cả là làm thầy lưu danh hậu thế. Nguời thứ hai cũng họ Liêm hung hăng đòi đánh nguời này nguời kia, thích nhìn phụ nữ ở trần mà không chịu trả tiền ! Còn nguời thứ 3 là nữ đào hoa Liêm Trinh gian dối như Đắc Kỹ, ích kỹ và ăn nói ngọt như đuờng phèn nhưng trong bụng dạ thì phản trắc kinh lắm (Tấu Thư gặp Không Kiếp). Như vậy Liêm rõ ràng thuộc phe Hắc Đạo. Thường thì có cái bóng Không Kiếp đâu đây, lâu lâu lòi cái đuôi chồn hôi khó ngữi !!!

Nhưng sự đời đâu có đơn giản như thế vì còn nhiều sao khác giúp phần thay đổi cục diên phần nào, có khi còn biến nguợc trở lại ! Nào Tuần Triệt, nào Hoá Kỵ, nào Thiên Tài, nào vòng Thái Tuế minh danh.

LND

Thiên Không tại Mệnh

Posted in Tử vi lý số on 04.06.2007 by Nhật ký tình yêu

Vì vấn đề này nhiều người gây tranh cãi thị phi trong giới tử vi, nên tôi sẽ viết tặng chỉ cho những người có cách này, không bàn cãi.

Nghe nói cụ Hồ cũng có Thiếu Dương-Thiên KHông cư mệnh !!! mà làm được sự nghiệp như cụ thì cũng bao nhiêu người ao ước.
Vì vấn đề này nhiều người gây tranh cãi thị phi trong giới tử vi, nên tôi sẽ viết tặng chỉ cho những người có cách này, không bàn cãi.

Nghe nói cụ Hồ cũng có Thiếu Dương-Thiên KHông cư mệnh !!! mà làm được sự nghiệp như cụ thì cũng bao nhiêu người ao ước.

Theo như kinh nghiệm nghiên cứu nhiều năm của tôi về các lá số trong cách Thiếu Dương – Thiên không (goi là theo quy ước địa chi tam hợp trên vòng thái tuế). Thì những ai Mệnh /Thân có cách này coi như đã được ưu đãi của Trời đất (tiên Thiên), đã có sự ưu đãi hơn người về trí tuệ và sự may mắn, dễ nhậy cảm sáng suốt, ngộ đạo , dễ hiểu được ý Trời (những điều kiện cần để thành công). Tuy nhiên nó có 2 mặt của nó, nếu đi với những sao đẹp mới bảo đảm sự thành công và hạnh phúc, còn nếu đi với những sao xâu thì cơ may do Thiếu Dương-Thiên KHông tạo ra lại là cái bẫy làm thất bại cho những người có được chance nhưng chưa đủ tài, đủ đức để được hưởng. Nhưng vì luôn có 3 hoặc 4 Đức tụ chiếu nên nếu có thất bại thì vẫn có người nâng đỡ để đứng lên, rút kinh nghiệm tự học hỏi mà đi tiếp chứ không đến nỗi tàn rụi ngay từ cú đầu tiên như 1 số cách khác.

Nói tóm lại (chỉ dành cho những ai có cách này) Những bạn nào có bộ Thiếu Dương Thiên Không thì hãy mừng về điều đó nhưng không được tự mãn đắc ý vì trong đời sẽ gặp những cơ may ưu đãi từ Thượng đế ban cho cao hơn phúc đức và tài năng thực sự của bạn đáng được hưởng theo luật công bằng. Cho nên muốn giữ được thành đạt và hạnh phúc cao hơn khung số đã định đó bạn phải nỗ lực hơn người bình thường về tu dưỡng đạo đức, tích lũy phúc đức và rèn luyện phát triển tài năng, còn không thì cho dù có cơ hội lên cao những tài phúc không xứng sẽ mất cân bằng bên trong và sẽ phải down xuống đó.

Đã trúng cách này thì có may mắn hơn đời nhưng bù lại phải trả giá là luôn luôn phải nỗ lực hơn người về mọi mặt, không thì luật công bằng sẽ đòi lại sự ưu đãi.


Vòng Tướng Tinh

Posted in Tử vi lý số on 04.06.2007 by Nhật ký tình yêu

Vòng Tướng Tinh, một trong 4 bộ tạo thành bộ tứ tượng tử vi?

… Một số sao như đã nói ở trên mà nằm ở Mệnh, Thân, Quan thì con người ấy tài năng khí phách hơn người. Ví như Kình Thiên thủ Mệnh thì bản tính ngang tàng “dọc ngang nào biết trên đầu có ai”. Còn như sao Tướng Tinh, sách vở có nhắc tới như sau:

- “Tướng tinh bị hại, Nhạc Vũ Mục (Nhạc Phi) bảo thiên chi oan” (ôm trời kêu oan), hoặc
- “Trai sinh Hoa Cái, gái Tướng Tinh” – Đi về võng lọng đón đường cái – tiến lộc cửa nhà vinh.
Nam nữ thông minh, thanh tân, nhan sắc quý tướng. hoặc câu:
- “Nam vinh nữ trọng quyền”
“Tướng Tinh đại cát lâm”
“Thiếu niên tài lộc thịnh”
“Bán thân mãi điền địa”
Tóm lại là “bẩm tính hoàng thiên nhất thân vinh, vận địa sinh nên đài các, vua quan hào phú thụ bảo thiêng”.

Chỉ là một trung tinh thôi mà tinh lực của nó mạnh như vậy, thế thì vấn đề ở đâu? Có phải do vấn đề bí truyền của Tử Vi chăng hay vì người muốn giữ bí mật không lộ thiên cơ mà không dám phổ biến ra ngoài cho người đời sau biết ?

Sách Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư không hề nhắc đến vòng sao Tướng Tinh, nhưng nhiều sách bên Trung Quốc có ghi chép về vòng này. Khoa tử vi Việt Nam chịu ảnh hưởng nhiều bởi Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư nên cũng ko có vòng này. Nhưng thực ra có dùng một số sao của vòng này mà không hay. Đó là Hoa Cái, Đào Hoa (Hàm Trì) và Kiếp Sát…

Trước tiên, ta cần phải biết cách an vòng Tướng Tinh như sau: Tướng Tinh an theo tam hợp Tuổi.
- Dần Ngọ Tuất: Tướng Tinh an tại Ngọ
- Thân Tí Thìn: Tướng Tinh an tại Tí
- Tỵ Dậu Sửu: Tướng Tinh an tại Dậu
- Hợi Mão Mùi: Tướng Tinh an tại Mão.

Vòng Tướng Tinh chỉ đi theo chiều thuận như Thái Tuế. Sau Tướng Tinh tới Phan Án- Tuế Dịch- Tức Thân – Hoa Cái – Kiếp Sát – Tai Sát – Thiên Sát – Chỉ Bối – Hàm Trì (Đào Hoa) – Nguyệt Sát – Vong Thần.

Hiện nay các sách tử vi phổ biến mới chỉ dùng 1 cặp 3 sao trong vòng Tướng Tinh là Đào Hoa (Hàm Trì), Hoa Cái, Kiếp Sát. Cách an cũng dùng tam hợp tuổi (hành của tuổi) như trên.

Trong vòng này, Phan Án có hai ý nghĩa cơ bản:

1 – Làm tăng thanh thế, tác dụng giống như Bát Tọa, chỉ khác ở điểm Phan Án có lưu niên trong khi Bát Tọa không. Bởi vậy Thai Tọa làm tăng thanh thế cho cả đời, còn Phan Án làm tăng thanh thế cho cả một năm/vận.

2- Gần cận người sang quý hay nói cách khác đi là dễ cận kề quý nhân. Phan Án rất hợp với Khôi Việt. Có Khôi Việt đứng bên thì quý nhân chiếu cố là điều khỏi phải bàn, nhưng ko thực, chỉ là hữu danh vô thực, kiểu nhân sĩ tư vấn vớ vẩn. (Thực là Khôi Việt cư chiếu).

Tuế Dịch được xem như một loại lưu niên Thiên Mã (Dịch) và tính chất là một. Lưu Lộc mà có Tuế Dịch thì cũng kể là cách Lộc Mã giao trì, vào Mệnh Tài hay Quan, Di, đều chủ về sự tấn tài tấn lộc.

Tuế Dịch gặp Lộc Tồn cố định trên lá số thì lại không kể làm Lộc Mã giao trì, chỉ gặp lưu Lộc mới tính. Nếu lưu Lộc đứng cùng, đối xung với Lộc cố định mà thêm cả Tuế Dịch nữa thì gây ra hiện tượng “Động” đưa đến đi xa hoặc thay đổi công việc lâu dài.

Tức Thần mang ý nghĩa thiếu xung động trì trệ nằm ì một chỗ. Tức Thần vào cung Phúc Đức tâm tư tiêu cực dễ bi quan, luôn luôn nghĩ đến thất bại thành ra bản thân kém nỗ lực phấn đấu.

Tức Thầnkhông nên cùng đứng với Thiên Cơ ở Mệnh hay Phúc Đức vì hễ làm việc thì sẽ thấy hơi khó là bỏ, không bền chí. Tức Thần hợp với sao Thiên Lương, đứng cùng nhau thì giỏi tùy hòa mà thành ra đắc lực.

Tức Thần gặp Hàm Trì (Đào Hoa) thì dễ thuận, dễ chấp nhận sự an bày của số mệnh, nhất là đối với duyên tình, thiếu ý chí mạnh, gặp sao hay vậy.

Tai Sát trên cơ bản tính chất là tai nạn và thường đem hung hiểm tới. Mức độ tai họa thế nào cần phải phối với các sao khác để đoán.

Tai Sát bao giờ cũng ở Tứ chính nên nếu gặp Đào Hoa, Mộc Dục hoặc Văn Xương thêm Hóa Kỵ, mà lưu niên lưu nguyệt thấy luôn các Sát, Kị xung hội, hẳn là sẽ có tai họa vì tình, bị gái lừa, trai gạt hay bị đánh đập vì ghen tuông.

Tai Sát vào cung Tật Ách làm tăng thêm sự hung hiểm, trầm trọng của tai họa. Tai Sát chỉ gây hung hiểm khi nó đến cung nào, toa rập với các hung sát tinh khác, trường hợp đó cát tường, có nhiều sao giải thì Tai Sát vô lực.

Thiên Sát tính chất ngược với Thiên Đức. Thiên Đức đem thuận lợi cho quan hệ với người trên, bố mẹ hoặc người hơn chức vị mình. Thiên Sát gây khó khăn cho quan hệ này. Thiên Sát ở Mệnh hay Vận thì khó được cấp trên nân đỡ, hoặc dễ bị người thân ghét bỏ.

Chỉ Bối là sao hay bị người khác nói xấu, nó cùng tính chất với Phi Liêm. Chỉ Bổi đi cặp với Văn tinh, Khoa, Xương Khúc thì hay bị người ghen về tài học mà phỉ báng.

Nếu Chỉ Bối đứng cùng Phi Liêm thì tình trạng bị dèm pha càng nặng, hoặc gặp Thiên Cơ cũng vậy. Chỉ Bối đứng với Lương, Hóa Lộc là con người tham lợi, việc gì cũng làm. Chỉ Bối kỵ đóng ở Mệnh cung, Huynh Đệ và Nô Bộc.

Nguyệt Sát na ná như Thiên Sát, nhưng tai ách thường đến một cách âm thầm. Nguyệt Sát ảnh hưởng mạnh với Nữ hơn Nam.

Nguyệt Sát phải có sự trợ lực của sao mà nó đứng cùng thì mới gây rắc rối mạnh. Nguyệt Sát vào cung Tật Ách thì có bệnh khó phát hiện. Nguyệt Sát gặp Văn Khúc, Văn Xương, Hóa Kị thì có thể gặp họa tình ái.

Vong Thần mang tính chất phá hoại bất ngờ, công việc đang trôi chảy đột nhiên bị phá vỡ hoặc do đối thủ, hoặc do hoàn cảnh thay đổi bất ngờ, làm cho mất tiền của, hao tài lộc.

Vong Thần là chuyên thất bại bất ngờ, nhưng nó cũng mang ý nghĩa lãng phí, nếu đứng với Hình Hao hay Không Kiếp thì là con người thiếu khả năng quản thủ tiền bạc.

Các sao còn lại trong vòng Tướng Tinh được nói khá kỹ trong các sách tử vi hiện nay.

Vậy mới thấy, còn hẳn một vòng sao, tác động của các sao và ý nghĩa luận giải quan trọng không được phổ biến. Tướng Tinh đi cùng với các cách Tử Phủ Vũ Tướng miếu vượng, sao phù trợ đẹp(Tả Hữu, Khôi Việt, Xương Khúc, Khoa Quyền Lộc) thì là thượng nhân anh hùng hãn thế.

Ngoài ra khi ta kết hợp các bộ ba sao vòng Tướng Tinh (ví dụ: Tướng Tinh, Hoa Cái, Chỉ Bối…) thì chúng ta sẽ có những phân loại hữu ích.

Từ ý nghĩa của các sao trong vòng Tướng Tinh và tác dụng của sự kết hợp giữa chúng, ta thấy vòng này có tầm quan trọng như 3 vòng Sinh Tuế Lộc. Phải chăng tử vi có lưỡng nghi là hai vòng chính tinh và tứ tượng là 4 vòng, Sinh Tuế Lộc Tướng thì mới hoàn chỉnh? Mà vòng Tướng Tinh lâu nay vốn không được đề cập tới vì lý do bí truyền hay vì tam sao thất bản, hoặc giả do các thầy trước đây thấy một số tính chất giống nhau giữa các sao mà loại bớt đi chăng?

(Theo Vũ Tài Lục và Thiên Phúc)

Âm Sát trong tử vi TQ

Posted in Tử vi lý số on 04.06.2007 by Nhật ký tình yêu

Âm Sát trong tử vi Việt không dùng. Nhưng trong tử vi TQ thì lại rất chú trọng. Âm Sát thuộc nguyệt hệ, an theo tháng như sau:

- Tháng 1 an tại Dần
- Tháng 2 an tại Tị
- Tháng 3 an tại Tuất
- Tháng 4 an tại Thân
- Tháng 5 an tại Ngọ
- Tháng 6 an tại Thìn
- Tháng 7 an tại Dần
- Tháng 8 an tại Tị
- Tháng 9 an tại Tuất
- Tháng 10 an tại Thân
- Tháng 11 an tại Ngọ
- Tháng 12 an tại Thìn

Như vậy sao Âm Sát chỉ nằm trong 3 trục Dần Thân, Tị Ngọ, Thìn Tuất, ko nằm trên trục tâm linh và âm dương. Âm Sát tính chất là nghi tâm, Âm Sát vào quan hệ giao tế là tiểu nhân. Âm Sát vào tư tưởng tâm lý là ảo giác thiên về những điều quái dị. Sao Âm Sát qua luận đoán của các vị tu hành là sao thuộc về linh giới.

Âm Sát vào Mệnh thì hay gặp tiểu nhân, bản tính nghi nghi hoặc hoặc nên dễ bị phiền não vô ích, nếu thấy cả Đà Kị Không Kiếp hãm thì dễ dàng đi dến ảo giác, suy nghĩ vớ vẩn hoặc vì ma túy mà thành người đầu óc lơ mơ. Tuy nhiên nhiều thầy bói có tiếng hay có Âm Sát ở Mệnh.

Âm Sát ở cung Di, con nười cô độc, ít hợp khó hòa hay ngại ngùng nghi kị, mê muội với sự vật hư ảo.

Âm Sát ở Tật thêm sát tinh, tư tưởng hành động thiếu thăng bằng, dễ bệnh về tâm trí.

Âm Sát ở Phụ ưa những vọng tưởng không thực về gốc gác của mình

Âm Sát ở Nô hay uất ức với bè bạn, với công việc hợp tác, nghi kị.

Âm Sát ở Bào, thường bị phản từ bên trong.

Âm Sát ở Phối, hay đau khổ ngẩn ngơ vì người thương yêu mất đi do sinh ly hay tử biệt.

Âm Sát ở Quan, dễ làm việc mê muội mà hại đến sự nghiệp, mê vợ, mê nhân tình hoặc cả tin vào bạn, người dưới quyền, người trên mà khốn khổ.

Âm Sát ở Tài, vì tự cao tự đại, vì tham mê mà dễ phá sản.

Âm Sát ở Phúc, tâm lý tư tưởng quá khích, cuồng tưởng, vọng tưởng, cuồng tính, gặp thêm các sát kị có thể thành thần kinh.

Âm Sát ở Tử thì con người rất chủ quan, lại hay đi vào tín ngưỡng tôn giáo đồng bóng, tuyệt đối tin rằng con cái mình giỏi hơn, đang kính yêu hơn bất cứ ai khác.

Âm Sát ở Điền thường gặp những nhà cửa có ma quỉ, hoặc vì vợ mất đi, con chết mà cứ lởn vởn thấy linh hồn vợ con phảng phất.

Còn sao Thiên Khố các sách thấy ít nhắc tới, chỉ nói sơ qua là một tiểu Thiên Phủ, chủ về tiền bạc. Đóng cung Tài Bạch và cung Mệnh thì là người quản thủ tiền bạc giỏi.

Một số cách giải tử vi mới được bộc lộ, cần kiểm chứng

- Mối quan hệ giữa Cục và Mệnh để luận độ số tăng giảm. Có câu phú:
Cục mà sinh Mệnh thời hay
Cục mà khắc Mệnh tai ương có ngày
Mệnh mà sinh Cục có ngày tổn hao…

Một số điều thú vị về các trục trong Tử Vi trong mối tương quan Lục Thân.

- Cung Ngọ có đặc điểm là “Cao”. Mệnh đóng ở cung Thân thì cung Thê đóng ở cung Ngọ: Vợ dáng người cao. Cung Huynh Đệ đóng ở Ngọ thì anh em có người cao hơn mình. Mệnh đóng ở cung Ngọ thì người đó dáng cao. Điền trạch ở cung Ngọ thì nền nhà chỗ ở cũng cao hơn chung quanh. Nhưng chú ý, đây là trường hợp không gặp Tuần Triệt.

- Trục Tí Ngọ là trục thuộc về Bố Mẹ, chịu ảnh hưởng nhiều từ Bố Mẹ, kể cả về cung số và cung nhập hạn. Ví dụ hạn cung Tử tức đóng ở cung Tý thì con cái chịu ảnh hưởng nhiều về bố mẹ, phụ thuộc vào bố mẹ, phải nghe theo bố mẹ. Cung Tài ở Ngọ có Song Hao mà xấu lại gặp Triệt thì chẳng được nhờ tiền của bố mẹ. Khi Triệt hết tác dụng thì Song Hao phát huy tác dụng phải lo tiền của để cung phụng bố mẹ.

- Trục Sửu Mùi là trục thuộc về anh em, ảnh hưởng chi phối, phụ thuộc về anh em. Ví dụ cung Tử tức đóng ở Mùi có Tham Vũ gặp Triệt thì khi mình ngoài 30, con cái được nhờ anh và em vợ (vì ở cung Âm).

- Trục Dần Thân là thuộc về con cái, vì con cái, ảnh hưởng của con cái, được nhờ con cái. Cung Quan Lộc ở Dần, ảnh hưởng con cái về đường làm ăn sinh sống, do đó mà mình được hưởng nhiều. Cung Thê đóng ở Thân thì vợ nặng về tình cảm với con hoặc vợ mình cũng ảnh hưởng của con cái v.v.

Tương tự:

- Trục Thìn Tuất là về bè bạn (tốt cũng như xấu)
- Trục Tỵ Hợi là về nhà cửa, đất đai

Ngòai ra, cứ cung Nhị Hợp là chủ về đằng nhà vợ hay phía ngoại. Ví dụ cung Phụ Mẫu cha mẹ đẻ ở Hợi thì cung chủ về cha mẹ đằng nhà vợ là Dần. Cung Huynh Đệ ở Dậu thì anh em đằng nhà vợ ở cung Thìn. Cung Tài của mình ở Ngọ thì tài của vợ ở Mùi v.v..

Trên đây là một số điều mới biết, cần được nghiệm lý thêm. Cũng như vòng Tràng Sinh đại diện cho các thứ bậc cá nhân trong một đại gia đình. Kết hợp những điều này vào luận đoán vận hạn sẽ làm cho sự luận đoán trở nên đặc biệt phong phú và chi tiết.

Bộ sao Quan – Phúc, Tài – Thọ

Posted in Tử vi lý số on 04.06.2007 by Nhật ký tình yêu

 

Một số kinh nghiệm giải đoán và cải số

Theo một số bậc thầy về tử vi, mình làm việc thiện ở cung có Thiên Phúc thì mới được hưởng tác động cứu giải (hạn) của Thiên Quan tại cung/vận có Thiên Quan. Trong Tử Vi, Thiên Quan cứu giải rất mạnh gần ngang Hóa Khoa, vừa không bị Tuần Triệt tiết giảm. Cái cách Quan Phúc rất lý thú ở chỗ cải số, cứ bình thường ăn gian ở ác thì không hưởng gì, nhưng nếu ăn ở ngay lành theo Phúc, thì Quan sẽ cứu rất hiệu nghiệm.

Quang Quý không đủ hiệu lực giải nạn lớn. Chỉ có Quan Phúc đủ sức giải nạn Không Kiếp, Kiếp Sát.

Cũng tương tự, Thiên Tài và Thiên Thọ có những đặc điểm sau:

1. Cả hai cùng làm chiết giảm các sao xấu và các sao tốt. Gặp chính tinh hãm, cần tới Tài Thọ làm tốt (chứ ko phải sáng) ra.
2. Cả hai cùng không chịu ảnh hưởng của Tuần Triệt.
3. Gặp một vận hạn, Thiên Tài có ảnh hưởng giải họa. Nhưng ảnh hưởng đó chỉ trọn vẹn khi con người tạo nhân tố ở Thiên Thọ. Với cách khác, ở cung Thiên Thọ, con người phải làm việc ngay lành thì mới hòng Thiên Tài giải cứu khỏi hạn, ở cung hay vận có Thiên Tài.

Điều này được giải thích do chỗ Thiên Thọ phát xuất từ cung Thân (hành động tạo nhân của mình). Còn Thiên Tài phát xuất từ cung bản Mệnh, là cái quả của mình được hưởng. Nếu vì sự làm tốt làm phúc mà tạo nhân cho cả Thiên Thọ, Thiên Phúc, thì Thiên Quan, Thiên Tài cũng phát huy được khả năng cứu giải và đem lại nhiều lợi lộc…

Qua thực tế luận đoán, điều trên được nhiều bậc thầy tử vi chiêm nghiệm là đúng và khuyên thân chủ như những cách cải sửa số mạng qua việc làm phúc. Vậy những ai tin Tử vi mà muốn cải sửa số mạng, hãy nên nhìn đến nơi có Quan Phúc, Tài Thọ.

Tu tâm tích đức thiện lương
Nhẹ nhàng nợ trước phúc còn mai sau.

CÁC CHÒM SAO ỨNG VỚI LÁ SỐ TỬ VI

Posted in Tử vi lý số on 01.06.2007 by Nhật ký tình yêu

Bạn hãy thử quan sát vị trí của Mặt Trời khi nó vừa “chạy” vừa quét lên bầu trời một vòng “hoàn hảo”. Ở mỗi một “phách nhấn” nó lại in “dấu chân” mình lên bởi một chùm sao quy ước. Có thể coi đó là quy luật, một trò chơi tự nhiên hoặc cơ sở cho môn tử vi đều đúng…

Đồng hồ sinh học của tự nhiên
Hàng ngày, Mặt Trời mọc ở phía Đông và lặn ở phía Tây. Người ta tính rằng: phải mất 24h để từ giữa trưa ngày hôm nay cho đến giữa trưa ngày hôm sau. Bạn sẽ thấy Mặt Trời “thức dậy” và “buông rèm” bao giờ cũng lệch đi một chút so với ngày hôm trước. Nhưng cho dù như thế nào thì chu kỳ và vị trí chính xác của nó lúc mọc, lặn so với chân trời cũng tuần hoàn trong đúng một năm.

Điều đó có ý nghĩa gì? Tức là, để hoàn thành chu kỳ một năm trên nền trời, Mặt Trời sẽ mọc – lặn chính xác là 365,24 ngày, hay là Mặt Trời sẽ hoàn thành một vòng 360o để bạn được thấy nó vị trí tương ứng với một số ngôi sao (một chòm sao) như thời điểm 1 năm trước đó.
Chính điều này đã khiến cho một thời gian dài trước đây, cả nhân loại đều nhầm tưởng rằng: Trái Đất là trung tâm của vũ trụ, cả Mặt Trời và “bầy sao” đêm đều chuyển động tròn quanh Trái Đất với những chu kì khác nhau tạo nên sự biến đổi về vị trí tương đối của Mặt Trời trên nền trời sao. Giờ đây, chúng ta đã biết rõ những gì chúng ta thấy dưới góc nhìn chính xác của khoa học.

Như chúng ta đã biết, đường biểu kiến của Mặt Trời trên nền trời sao được coi là Hoàng Đạo. Do trục chính của Trái Đất nghiêng một góc là 23,5o so với mặt phẳng quỹ đạo nên vòng tròn Hoàng Đạo này cũng lệch góc so với xích đạo một góc 23,5o. Hơn thế, để “chu du” hết một vòng tròn Hoàng Đạo (1 năm), Mặt Trời sẽ lần lượt lướt qua 12 chòm sao và các hành tinh khác trong Hệ Mặt Trời cũng chuyển động như vậy.

Điều đó đồng nghĩa với việc chúng chuyển động cùng “một đường ray” chăng? Hoàn toàn không phải vậy. Mặt phẳng quỹ đạo của chúng hoàn toàn khác với Trái Đất nên khi “đi” trên bầu trời chúng không “nhầm” với đường Hoàng Đạo và dao động dưới “con đường” ấy khoảng 8o thành một vành đai gọi tên là Hoàng Đới.
Chính những “hình hài” ngộ nghĩnh, ríc rắc này đã làm “cơ sở” cho các nhà thiên văn, chiêm tinh Phương Đông, phương Tây chia Hoàng Đới thành 12 cung tương ứng với tên 12 con vật cách điệu của các chòm sao. Thuật bói toán, tử vi bắt đầu có “cớ” xem xét sự vật dưới “con mắt” riêng của mình…

Tử vi – cuộc đời – quy luật chẵn lẻ

Từ xa xưa, các nhà thiên văn đã nhận ra rằng: vào mỗi buổi sáng khi chúng ta thức dậy, vị trí Mặt Trời có sự thay đổi. Tại chỗ Mặt Trời sắp mọc lên tháng này có chòm sao này nhưng tháng sau lại được thay thế bởi một chòm sao khác Trong mỗi năm, mỗi tháng, Mặt trời lần lượt “phiêu lưu” tới một vị trí mới, tương ứng với vị trí của một trong 12 chòm sao khác nhau, gọi là 12 chòm Hoàng Đới. Đó là cơ sở để xuất hiện tử vi.

Tử vi phương Tây

Chia Hoàng Đạo ra thành 12 cung bằng nhau tương ứng với 12 vị trí của Mặt Trời tại 12 tháng trong năm, người Hy Lạp cổ là những người đầu tiên đặt tên các chòm sao Hoàng Đạo này. Vòng tròn Hoàng Đạo bao gồm 12 chòm sao phân định 12 vùng trời thuộc dải Hoàng Đới. Theo quan niệm của họ, tử vi coi 12 cung Hoàng Đạo bằng nhau, dựa vào nó để biết 12 khoảng thời gian bằng nhau Mặt Trời xuất hiện tương ứng là:

1. 21/03 – 19/04 : Aries (Bạch Dương, Dương Cưu)
2. 21/04 – 20/05 : Taurus (Kim Ngưu)
3. 21/05 – 21/06 : Gemini (Song Tử, Song Nam)
4. 22/06 – 22/07 : Cancer (Cự Giải)
5. 23/08 – 22/09 : Leo (Sư Tử)
6. 23/07 – 22/08 : Virgo (Xử Nữ)
7. 24/09 – 23/10 : Libra (Thiên Bình)
8. 24/10 – 22/11 : Scorpius (Thiên Yết, Bọ Cạp)
9. 23/11 – 21/12 : Sagittarius (Nhân Mã)
10. 22/12 – 19/01 : Capriconus (Ma Kết)
11. 20/01 – 18/02 : Aquarius (Bảo Bình)
12. 19/02 – 20/03 : Pisces (Song Ngư)

Điều khác biệt nhất mà người ta không lường trước được là, trục Trái Đất tuy “nghẹo” sang một bên nhưng hiện tượng tuế sai khiến cho nó liên tục đảo đi đảo lại. Điều này dẫn đến việc hướng trục Trái Đất sẽ khác đi đôi chút so với cách đây khoảng 2000 năm và góc nhìn của các chòm sao Hoàng đạo cũng khác đi một khoảng nhất định. Bạn hãy thử tưởng tượng xem: một ngày nào đó ở một kiếp khác trong tương lai, khoảng 2000 – 3000 năm chẳng hạn, góc nhìn các chòm sao này sẽ còn thay đổi đi rất nhiều…

Tử vi phương Đông

Tử Vi phương Đông có “gốc gác” từ Trung Quốc. Khi các nhà thiên văn luận từ các hành tinh ra thuật âm dương ngũ hành. Người ta đặt tên 5 hành tinh là: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ theo màu sắc của chúng (Hoả màu đỏ, Mộc màu nâu sáng…) – 5 nguyên tố cấu thành nên vạn vật.
Ngay sau 3 hành tinh mới ra đời, văn minh phương Tây ăn mòn vào văn minh phương Đông khiến cho tử vi phương Đông thêm 3 nguyên tố nữa: Uranus – Thiên vương tinh (thần cai quản bầu trời), Neptune (Poseidon) – Hải vương tinh (vị thần cai quản đại dương), Pluto (Hades) – Diêm Vương Tinh (Vị thần cai quản âm phủ).
Phương Đông cũng có vòng Hoàng Đạo với những ngôi sao như Hoàng Đạo của phương Tây. Có điều sự phân chia các chòm sao thì khác. Phương Đông chia Hoàng Đạo thành 28 chòm sao Nhị Thập Bát Tú. 28 chòm sao này gồm 4 nhóm, mỗi nhóm gồm 7 chòm như sau:

1. Hướng Đông: nhóm Thanh Long: Giác, Cang, Đê, Phòng, Tâm, Vĩ , Cơ
2. Hướng Tây: nhóm Bạch Hổ: Khuê, Lâu, Vị, Mão, Tất, Chuỷ, Sâm
3. Hướng Bắc:
nhóm Huyền Vũ :Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích
4. Hướng Nam:
nhóm Chu Tước: Tỉnh, Quỷ, Liễu, Tinh, Trương, Dực, Chẩn
Trong khi các nhà chiêm tinh phương Tây chia Hoàng Đới thành 12 cung và đặt tên nó cách điệu theo hình dạng của các chòm sao tương ứng với từng con vật: vòng ZODIAC (do chữ ZOO nghĩa là động vật), thì các nhà thiên văn phương Đông (Trung Quốc) lại chia vong tròn đó thành 12 cung, đặt tên là: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi và gọi là 12 con giáp.

Đọc tiếp »

Phu Kinh Duong

Posted in Tử vi lý số on 24.03.2007 by Nhật ký tình yêu

Những câu phú về Kình Dương - Kình dương cư Tí Ngọ Mão Dậu hãm địa, tác hoạ hưng ương hình khắc thậm. (Kình Dương đóng Tí Ngọ Mão Dậu thường gây ra tai hoạ hình khắc).

- Kình Dương nhập miếu gia cát, phú quý thanh dương. (Kình Dương miếu địa gặp cát tinh, giầu sang dương danh).

- Kình Dương Hỏa Tinh hãm vị hạ cách. (Kình Dương đứng cùng Hỏa Tinh ở hãm địa là hạ cách).

- Kình Dương thủ Mệnh, Thất Sát Phá Quân xung chiếu chủ hình khắc.

- Dương Đà Hoả Linh phùng cát phát, hung tắc kị. (Dương Đà Hoả Linh đi cùng với cát tinh tất phát tài, tuy nhiên thêm hung tinh vào thì rất xấu).

- Kình Dương đối thủ tại Dậu cung, Tuế điệt Dương Đà Canh mệnh hung. (Kình Dương đóng Dậu ở cung Thiên di, gặp hạn lưu Kình Đà – người tuổi Canh nguy hiểm).

- Dương Đà hiệp Kỵ vi bại cục. (Kình Dương Đà La đi cùng Hoá Kỵ là cách thất bại).

- Kình Dương trùng phùng lưu niên, Tây Thi vẫn Mệnh. (Kình Dương Mệnh gặp lưu niên hạn Kình Dương Tây Thi uổng m& #7841;ng).

- Dương cư Đồi Chấn, lục Mậu lục Giáp phúc nan tồn. (Kình Dương xung chiếu Mệnh cư Dậu hoặc Mão, người tuổi Mậu Giáp cuộc đời lắm tai ương).

- Kình Dương gặp Âm Đồng (Tí hay Ngọ) thêm Phượng Các Giải Thần uy danh lừng lẫy.

- Dương Đà Quan Phủ ư hãm địa loạn thuyết chi nhân (Mệnh có Kình Đà hãm địa đi cùng Quan Phủ ưa nói bậy, nói quá sự thực, nói lung tung).

- Dương Linh toạ mệnh, lưu niên Bạch Hổ tai thương. (Mệnh có Kình Dương Linh Tinh đ.c, vận lưu niên gặp Bạch Hổ dễ gặp tai hoạ).

- Tật ách kiêu Đà Nhẫn phản mục tật sầu. (Cung Tật ách bị Kình Đà đóng dễ đau mắt).

- Mệnh Dương Đà gia Kiếp thọ giảm. (Mệnh Kình Đà thêm Địa Kiếp làm giảm thọ).

- Kình Hư Tuế Khách gia lâm, mãn thế đa phùng tang sự. (Mệnh Kình Dương, Thái Tuế, Điếu Khách, Thiên Hư hội tụ cuộc đời lắm tang tóc buồn rầu. Vào hạn có cách trên dễ gặp tang sự nếu ko có cách hoá giải).

- Dương Nhẫn bất nghi Nhật Nguyệt tật bệnh triền miên. (Kình Dương gặp Nhật Nguyệt lâm bệnh trong người hoặc có bệnh lưu ko khỏi – bệnh mãn tính).

- Luận mệnh tất suy tính thiện ác Cự Phá Kình Dương tính tất cương. (Cự Môn Kình Dương hoặc Phá Quân Kình Dương tính tình cứng rắn).

- Dương Đà Nhẫn thủ ư Phu vị Hại chồng con chước quỷ ghê thay.

- Dương Hình Riêu Sát Phu cung Lại gia Linh Hoả vợ lo KILL chồng.

- Dương Đà bệnh ấy phòng mòn Tuế Đà vạ miệng xuất ngôn chiêu hiềm.

- Đà ngộ Kỵ chẳng lành con mắt Kỵ phùng Dương mắt hẳn thong manh.

- Dương nhẫn phùng Tuyệt Linh chốn hãm Công cù lao bú mớm như không. (Cung Tử tức có Tuyệt Linh Kình hãm địa thì khó nuôi con, hoặc có con cái cũng bằng ko)

- Kình Riêu Hoa Cái Thai Đà Vận phùng năm ấy đậu hoa phải phòng.

- Tứ hung ngộ quý nơi Thân Dậu Đến Phật đài cầu đảo mới xong. (Hạn đến cung Thân, Dậu có Kình Đà Hoả Linh gặp Tử Vi, Thiên Phủ phải làm nhiều việc thiện để phòng tránh tai hoạ).

- Đào Hồng mặt mũi xinh tươi Kỵ Hình Đà Nhẫn là người tật thương.

- Thái Dương đóng chốn thuỷ cung Gặp Kình hay Kỵ yểu vong hay mù. (Thái Dương ở Hợi, Tý gặp Kình Kỵ theo kinh nghiệm thì chỉ bị tật ở mắt thôi chứ ko đến nỗi yểu vong hay mù).

- Hoả Dương Tham Tướng Tị cung Hoặc là tứ Mộ nổi danh tướng tài.

- Sát Phá Liêm Tham lâm vào Kình Đà Kỵ ấy trách nào bạo hung.

- Ngọ cung tam Hố hợp Kình Người sinh Bính Mậu biên đình nổi danh.

- Dương Linh thủ Mệnh mấy ai Lại cùng Bạch Hổ hoạ tai đao hình.

- Kiếp Không Hình Kỵ Đà Dương Gian nan bệnh tật mọi đường khảm kha.

- Hình Kình cư Ngọ đồng gia Sát Kiếp lại chiếu ắt là ngục trung.

- Dương Đà Thất Sát phải hay Chiếu thủ Thân Mệnh tháng ngày khổ đau.

- Mấy người Đông tẩu Tây trì Phá Quân Thiên Việt hợp về Kình Dương.

- Thát Sát hãm thật đáng kinh Vận lưu niên gặp phải Kình sợ thay.

- Kỵ Liêm Phá Vũ xấu xa Giáp cùng Không Kiếp Kình Đà sao nên.

- Hoá Kỵ thi rớt lắm khi Dương phùng Kiếp Sát học gì cho xong.

- Dương Đà Kị Nhật Nguyệt xung Chim cưu thói ấy vợ chồng oánh nhau. (Dương Đà Kị vào cung Phu thê vợ chồng khó ăn ở trọn vẹn với nhau).

- Kình Dương mà gặp Thiên Hư hữu sinh vô dưỡng âu lo một đời. (Kình Dương Thiên Hư đ.c ở cung Tử tức)

- Kình Đà Không Kiếp Khốc Hư Sinh con điếc lác ngẩn ngơ thêm buồn (Cung Tử tức)

- Hoả Linh hình khắc cô đơn Kình Đà cha mẹ cùng con bất đồng. (phải là Kình Đà hãm địa đóng cung Phụ mẫu)

- Kình Dương Tham Lang đ.c tại Ngọ thủ Mệnh uy chấn biên cương. (Kình Tham đ.c ở Ngọ đóng Mệnh là nguời có quyền thế).

- Kình Dương Nhật Nguyệt đồng cung nam khắc thê nhi nữ khắc phu. (Kình Dương đứng cùng Thái Âm Thái Dương ở Mệnh thì trai khắc vợ, gái khắc chồng).

- Kình Dương Mão Dậu thủ Mệnh yểu triết hình thương. (Mệnh đóng Mão Dậu có Kình Dương thủ hay bị gặp tai nạn)

- Kình Dương thủ Mệnh Hố Kỵ Không Kiếp xung phá, ly tổ khắc thân. (Kình Dương hãm địa thủ Mệnh gặp Kỵ Không Kiếp hoặc Kỵ Hoả Linh xung phá tất lưu lạc cô đơn).

- Kình Dương trùng phùng lưu niên hung. (Kình Dương ở đại hạn, lưu niên gặp Kình Dương là hung).

- Tử, Phủ, Kình Dương tại cự thương (buôn bán làm giàu).

- Thiên Tướng, Liêm Trinh, Kình Dương giáp đa chiêu binh trượng nan đào (tù tội).

- Vũ Khúc, Kiếp sát hội Kình Dương, nhân trì đạo (bị giết).

- Vũ, Khúc, Dương, Đà khiêm Hỏa tú, táng Mệnh nhân tài (bị cướp).

- Thất Sát thủ chiếu, Tuế hạn Kình Dương Ngọ sinh nhân, Mệnh an Mão, Dậu Cung chủ hưng vong. – Phá, Hao, Dương, Linh. Quan Lộc vị đáo xứ khất cầu.

- Kình Dương nhập miếu, phú quý thanh danh.

- Dương, Hỏa đồng Cung oai quyền yểm chúng

- Dương, Đà, Linh, Hỏa, thủ thân, Mệnh yêu đà bối khúc chi nhân. (Gù lưng)

- Kình, Dương, Tý, Ngọ, Mão, Dậu, phi yểu triết, nhi hình thương.

- Kình Dương phùng Lực Sĩ, Lý Quảng nan phong.

- Dương, Đà, Hỏa, Linh phùng cát phát tài, hung tắc kỵ.

- Dương, Linh tọa Mệnh, lưu niên Bạch Hổ tai thương.

- Kình Dương đối thủ tại Dậu Cung, Tuế tấu Dương, Đà canh Mệnh hung.

- Dương, Đà giáp Kỵ vi bại cục.

- Dương Đà lưu niên Linh, phá; diện tự bạn lãng nhất Kình Dương Hỏa linh vi hạ cách (sa sút nghèo nàn)

- Kình Dương trùng phùng lưu Dương, Tây Thi hạn quyền thân.

- Kình Dương, Hỏa Linh vi hạ cách (tối kỵ nữ nhân)

- Tuổi Giáp Mệnh ở Mão, tuổi Bính Mệnh ở Ngọ, tuổi Canh Mệnh ở Dậu, tuổi Nhâm Mệnh ở Tý gặp nhiều Sao tốt bình thường, nếu gặp Sao xấu thì Kình Dương ở đó tối hung.

- Mệnh có Sao Kình, Linh, hạn lưu niên gặp B& #7841;ch Hổ tối hung.

- Tuổi canh Mệnh Dậu có Kình Dương lưu niên, gặp Kình Dương tối hung.

- Mệnh tại Cung Thân có Kỵ giáp Dương, Đà, không có cát tinh phù la tối hung … Vì Lộc Tồn phùng Kỵ cô bần yểu triết.

- Tuế hạn trùng phùng, ngộ Dương, Đà, …

- Khôi, Việt gặp Dương, Linh, Không, Kiếp rất xấu.

- Tối kỵ gặp Kình Dương, Kiếp sát và Triệt Lộ, Linh, Hỏa hãm gặp Đà La thật hay. Mà ngộ Đà khôn ngoan, sảo trá.

- Liêm Trinh, Tị, Hợi hiệu nhàn cung,

Bần phá Kình Dương, Hỏa cánh trung.

- Tham lang thủ Mệnh Đồng Dương (Kình Dương) cung,

Đà, Sát giao gia tất khốn cùng,

- Cự môn thủ Mệnh ngộ Kình Dương,

Linh, Hỏa phùng chi sự bất tường,

Vi nhân tính cấp đa điên đảo,

Bách sự mang mang loạn chủ trương.

- Hạn lâm Thiên Tướng ngộ Kình Dương

Tác họa dư ương bất khả đương,

- Phá quân nữ Mệnh bất nghi phùng,

Kình Dương gia hãm cánh vi hung,

Khắc hại lương nhân (sát chồng) phi nhất thứ,

Tu giao bi khốc, độ triền hôn.

- Văn Xương nữ Mệnh ngộ Liêm Quân,

Hãm Địa, Kình Dương, Hỏa, Kỵ tinh,

Nhược bất vi xương (góa) chung thọ yểu

Biên phòng (vợ lẽ) do đắc chủ nhân khinh

- KÌNH DƯƠNG NAM MỆNH

Lộc tiền nhất vị an Kình Dương

Thượng tướng phùng chi Phúc,

Lộc gia Cánh đắc quí nhân tương thủ chiếu,

Binh quyền vạn lý tráng hoàng gia

Kình Dương thủ Mệnh tính cương cường

Tứ mộ sinh nhân Phúc, Thọ trường (1)

Nhược đắc Tử, Phủ lai hội hợp

Tu tri tài cốc phú xương xương,

Kình Dương nhất diệu lạc nhàn Cung (Tý, Ngọ, Mão, Dậu)

Đà, Hỏa sung hề tiện thị hung,

Cánh nhược Thân, Mệnh đồng Kiếp sát.

Định nhiên yểu tuyệt tại đồ chung (chết đường)

Chú giải: (1). Tuổi Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, Mệnh lại an 4 Cung này thì rất tốt.

- KÌNH DƯƠNG NỮ MỆNH

Kình Dương thủ hạn tế suy tường,

Tứ mộ sinh nhân miễn họa ương

Nhược ngộ Tử Vi, Xương, Phủ hội

Tài Cung hiển đạt phúc du trường

Thiên La, Địa Võng ngộ Kình Dương

Nhị hạn xung hề họa hoạn nhung (ý nói tai họa như giặc)

Nhược thị Mệnh chung chủ tinh nhược,

Định giao nhất tật mộng Hoàng Lương (phú quí không bền)

Kình Dương gia sát tối vi hung,

Nhị hạn lưu giao lạc hãm cùng,

Khắc tử, hình phu, mãi điền ốc,

Đồ lưu (tù tội) phiếm phối khứ tòng nhung (bỏ chồng)

- Kinh thương Tử, Phủ ngộ Kình Dương

Vũ Khúc, Thiên Di lợi thị trường,

Sát, Phá, Liêm Trinh đồng Tả, Hữu

Dương, Linh, Hỏa tú viễn truyền dương (buôn bán to)

- Tật ách, Kình Dương phùng Hao sứ

Triết thương chi cốt (gãy, què) bất hòa bình

- Mão thượng Thái Âm, Kình Dương phùng

Thìn Cung Cự Hỉ, Tử Vi, Đồng

Tuy nhiên hóa cát, phi hoàn mỹ

Nhược phi gia Sát, đáo đầu hung

- Ngọ Cung Tham, cự, Nguyệt, Xương tòng

Dương nhân (Kình Dương) tam hợp tối hiềm sâm,

Tuy nhiên hóa cát cự vi lo,

Hoạnh phát, hoạnh thành, đáo lao cùng.

- Xét cho tường, chốn thủy cung

Kỵ tinh lạc hãm, Khoa, Đồng,

Kình dương Đà đắc địa, Hỏa chiếu phương

Linh tinh hạn gặp tai ương chẳng lành

- Kình Dương mà ngộ Thiên Đồng

Gặp Linh thủa ấy phải cầu hôn nhau.

- Kình tại Ngọ, mã đầu đới kiếm, tương giao sát diệu ư Bính, Mậu nhân, Mệnh vị nan toàn.

Hình, Hổ cư Dần, Hổ đới kiếm hùng, tương phùng Đế cách, ư giáp Kỷ nhân, vụ uy chấn động.

- Giáp, Kỷ nhân, Đế cách hoan phùng, kiêm Hữu Hồng, Xương, Thư, Nhân Kình Dương hạn phùng, tài tăng phúc tiến.

Ất, Tân tuế Văn Đàn hỷ ngộ, gia hữu Hư, Kình, Tuế, Khách hạn lâm hoạnh đạt võ công.

- THẤT SÁT HOẢ DƯƠNG BẦN THẢ TIỆN ĐỒ TỂ CHI NHÂN

Cung Mệnh có Sát hãm địa toạ thủ gặp Hỏa, Tinh, Kình Dương hội hợp là người nghèo hèn làm đồ tể hay hàng thịt.

- THẤT SÁT DƯƠNG LINH, LƯU NIÊN BẠCH HỔ HÌNH NGỤC TAI TRUÂN

Cung Mệnh có Thất Sát toạ thủ Kình Dương, Linh Tinh đồng cung hạn gặp Bạch Hổ tất phải gian nan về hình ngục.

- THẤT SÁT LƯU DƯƠNG NHỊ QUAN PHÙ LY HƯƠNG TẢO PHỐI

Cung Mệnh có Thất Sát toạ thủ có Lưu Hà, Kình Dương đồng cung cung, nhị hợp có Quan Phù tất phải xa quê hương mà thành hôn phối.

- THẤT SÁT THỦ CHIẾU, TUẾ HẠN KÌNH DƯƠNG, NGỌ SINH NHÂN MỆNH AN MÃO DẬU CUNG CHỦ HƯNG VONG

Cung Mệnh an tại Dậu, Mão có Thất Sát toạ thủ hay xung chiều người tuổi Ngọ hạn gặp Thái Tuế, Kình Dương chủ sự thành bại bất thường.

- SÁT KÌNH TẠI NGỌ MÃ ĐẦU ĐỚI KIẾM TƯƠNG GIAO SÁT DIỆU Ư BÍNH, MẬU MỆNH VỊ NAN TOÀN

Cung Mệnh an tại Ngọ có Thất Sát toạ thủ Kình Dương đồng cung, tuổi Bính, Mâu tất chết không thấy thường bị tai nạn về dao súng người có cách này ví như thanh kiếm kề cổ rất độc, nhưng gặp Phượng Các, Giải Thần thì không đáng lo ngại.

- THAM LANG, LIÊM TRINH, PHÁ QUÂN ÁC, THẤT SÁT, KÌNH DƯƠNG, ĐÀ LA HUNG

Cung Mệnh có Tham, Liêm, Phá toạ thủ tất có tình ác, có Thất Sát, Kình, Đà thời hung dữ, các sao kể trên phải cần gặp Khoa, Quyền, Lộc mới hay.

- YẾU ANH PHÙNG NGỌC NỮ GIAI DO CƠ NGỘ KÌNH DƯƠNG

Cung Mệnh có Thiên Cơ tọa thủ gặp Kinh Dương đồng cung như Yến Anh gặp Ngọc Nữ.

- CỰ HOẢ KÌNH DƯƠNG CHUNG THÂN ẢI TỬ

Cung Mệnh có Cự toạ thủ gặp Hỏa, Tinh, Kình Dương hội hợp hạn gặp sao xấu phải thắt cổ mà chết.

- XÉT XEM ĐẾN CHỐN THỦY CUNG KỴ TÍNH YỂM NHẬT ÚY ĐỒNG KÌNH DƯƠNG

Cung Mệnh, Thân an tại Tỵ, Hợi có Thái Dương tọa thủ gặp Hoa Kỳ, Kình Dương tất yểu tử không thì phải mù lòa hạn gặp cáchnày rất nguy hiểm một là cha chết hay đau mắt n& #7863;ng đến mù.

- ÂM DƯƠNG LẠC HÃM GIA KÌNH KỴ PHU THÊ LY BIỆT

Cung Phu Thê có Thái âm, Thái Dương, Hãm Địa gặp Kình Dương, Hoa Kỵ tất vợ chồng phải chia sẻ.

- LƯU BANG CAM NHẬP BAO TRUNG DO HỮU ÂM DƯƠNG GIAO HUY LA VÕNG KIẾP KHÔNG DƯƠNG NHẬN HẠN ĐÁO.

Hán Cao Tổ Lưu Bang bị ép vào đất Cao Trung vì hạn đến cung Thìn, Tuất gặp Âm, Dương, Kiếp, Không, Kình Dương hội hợp.

- DƯƠNG NHẬN HÃM TU BỊ THIẾT MIẾU VƯỢNG CƯ NHI HÀO KIỆT DƯƠNG DANH

Cung Mệnh có Kình, Hãm Địa tọa thủ là kẻ trộm cắp. Miếu, Vượng, Đắc Địa là kẻ anh hùng danh tiếng.

- MÃ ĐẦU ĐỚI KIẾM PHI YỂU CHIẾT TẮC HÌNH THƯƠNG

Cung Mệnh an tại Ngọ có Kình tọa thủ ví như kiếm kề cỏ ngựa gắp Tuất Sát, Thiên Hình hội hợp nếu không chết non thì cũng bị tù tội hoặc phải tan tát khổ sở.

- KÌNH NGỘ ĐỒNG ÂM, NHI PHÙNG PHƯƠNG GIẢI NHẤT THẾ UY DANH

Cung Mệnh an tại Ngọ có thiên Đồng, Thái âm, Kình Dương tọa thủ đồng cung, gặp Phượng Các, Giải Thần hội hợp là người tài giỏi thao lược uy quyền hiền hách danh tiếng lừng lẫy khác nào Quan Văn Trường đời Tam Quốc.

- MÃ ĐẦU ĐỚI KIẾM TRẤN NGỰ BIÊN CƯƠNG

Cung Mệnh an tại Ngọ, có Kình tọa thủ nếu không bị Sát, Hình xâm phạm và được nhiều sao sáng sủa tốt đẹp như Khoa, Quyền, Lộc, Mã hội hợp lại là người tài ba thao lược, uy quyền hiển hách tiêng tăm lừng lẫy và thường trọng nhằm nơi biên thùy người tuổi Bính Tuất có cách này là kỳ cách các tuổi khác cũng được vinh hiển nhưng sự nghiệp không bền và lại hay mắc tai họa.

- LÝ QUẢNG SỨC ĐỊCH VẠN CHỨNG THỊ HỮU KÌNH DƯƠNG LỰC SĨ.

Lý Quảng cung Mệnh có Kình, Lực tọa thủ đồng cung nên sức khỏe muôn người khôn địch, lập được nhiều công trận hiện hách nhưng không được phong Hầu vì có cách trên.

- KÌNH DƯƠNG NGỘ LỰC SĨ LÝ QUẢNG BẤT HẦU

Cung Mệnh có Kình Dương gặp Lực Sĩ đồng cung như Lý Quảng có công đánh Phiên nhưng không được phong Hầu.

- HÌNH XŨ DƯƠNG ĐÀ HƯỞNG PHÚC Ư NGŨ TUẦN CHI HẬU

Cung Mệnh có Kình, Đà, Miếu, Vượng thì ngoài 50 mới gọi là được hưởng phúc.

- DƯƠNG ĐÀ QUAN PHÙ Ư HÃM ĐỊA LOẠN THUYẾT CHI NHÂN

Cung Mệnh an tại Tý có Kình, Đà gặp Quan Phủ là người ăn nói lung tung không đâu vào đâu.

- LỖ TAI ĐIẾC LÁC ÂU SẦU, DƯƠNG ĐÀ KHÔNG KIẾP MỘT MIỀN MỆNH CUNG

Cung Mệnh có Kình, Đà, Không, Kiếp hội hợp là người điếc lác, ngễnh ngang.

- DƯƠNG ĐÀ PHÙNG MÃ TRỰC XUNG, NHỮNG LÀ ĐÁNH ĐẮC ĐẸP ĐÔNG CHẲNG RỒI

Cung Mệnh áo Kình Dương, Đà La gặp Thiên Mã xung chiếu tất là số nhà binh phải đánh Đông đẹp Bắc mãi không thôi.

- DƯƠNG ĐÀ KỴ NGỘ ÂM DƯƠNG, ẮT SINH ĐỚI TẬT HÌNH THƯƠNG NAN PHÒNG

Cung Mệnh, Thân có Thái âm, Thái Dương lạc hãm tọa thủ gặp Kình Dương, Đà La, Hỏa Kỵ hồi hợp là người mang ác tật.

- DƯƠNG HỎA ĐỒNG CUNG OAI QUYỀN YỂM CHÚNG

Cung Mệnh an tại Tứ, Mộ có Kình Dương, Hỏa, Linh tọa thủ đồng cung là người có uy quyền khiến muôn người phải khiếp sợ người tuổi Thìn, Tuất là thượng cách tuổi Sửu, Mùi là thứ cách.

- DƯƠNG ĐÀ LINH HỎA THỦ THẦN MỆNH YẾU ĐÀ BỐI KHÚC CHI NHÂN

Cung Mệnh, Thân có Kình, Đà, Hỏa, Linh hội hợp là người có tật ở lưng hay bị gù lưng.

- DƯƠNG ĐÀ HỎA LINH PHÙNG CÁT PHÁT TÀI HUNG TẮC KỴ

Cung Mệnh có Kình, Đà, Hỏa, Linh hội hợp nếu được nhiều Cát Tinh quần tụ tất luôn bán có tài lộc nếu bị nhiều sao mờ ám xâm phạm tất suốt đời khổ sở và thường mắc tại đến vong mạng.

- DƯƠNG LINH TỌA MỆNH LƯU NIÊNBẠCH HỔ TAI THƯƠNG

Cung Mệnh có Kình, Linh tọa thủ gặp Bạch Hổ lưu tất niên có tai nạn tang thương rất xấu.

- KÌNH DƯƠNG ĐỐI THỦ TẠI DẬU CUNG, TUẾ, TẤU, DƯƠNG ĐÀ CANH MỆNH HUNG

Cung Mệnh an tại Dậu có Kinh tọa thủ lưu Kình Dương, Đà LA lại gặp Kình, Đà cố định tối hung.

- DƯƠNG ĐÀ LƯU NIÊN LINH PHÁ: ĐIỆN TƯ BẢN LẢNG NHẤT KÌNH HỎA VI VẠ CÁCH

Cung Mệnh có Kình, Hỏa tọa thủ đồng cung hạn gặp Linh, Phá, Kình lưu niên tất phải sa sút nghèo hèn hoặc bị cắt chức hay giáng chức.

- KÌNH DƯƠNG TRÙNG PHÙNG LƯU DƯƠNG, TÂY THI HẠN QUYỀN THÂN

Lưu Kình Dương gặp Kình Dương cố định, như Tây Thi phải tự vẫn mà chết.

- KÌNH DƯƠNG HỎA LINH VI HẠ CÁCH

Cung Mệnh xấu xa mờ ám có Kình tọa thủ gặp Hỏa Linh đồng cung tất đời phải khổ sở không thể quý hiển đàn bà tối kỵ cách này.

- DƯƠNG NHẬN PHÙNG NHẬT NGUYỆT BỊNH TẬT TRIỀN MIÊN Cung Mệnh hay Tật Ách có Kình tọa thủ gặp Nhật, Nguyệt là người có bịnh tật liên miên.

- THỐN KIM KHUYẾT KÌNH DƯƠNG PHẢN HIỀM TAO KHỐN

Cung Thiên đi an tại Dậu có Kình Dương tọa thủ ra ngoài hay gặp nguy khốn.

- TẬT ÁCH KIÊM ĐÀ NHẬN PHẢN MỤC TẬT SẦU

Cung Tật Ách có Kình, Đà tọa thủ là người mù lòa.

- ĐÀ KỴ NHẬN THỦ Ư PHU VỊ, HẠI CHỒNG CON CHƯỚC QUỶ GHÊ THAY

Cung Phu có Đà La, Hỏa Kỵ, Kình Dương là người quỷ quyệt hại chồng hại con.

- DƯƠNG HÌNH RIÊU SÁT CUNG PHU, LẠI GIA LINH HỎA VỢ LO GIẾT CHỒNG

Cung Phụ có Kình Dương, Hãm Địa tọa thủ gặp Thiên Hình, Thiên Riêu, Thất Sát lại thêm Linh, Hỏa hội hợp đàn bà là người hung dữ, ghen tuông có thể giết chồng.

- DƯƠNG ĐÀ BỆNH ẤY PHÒNG MÒN, TUẾ ĐÀ VẠ MIỆNG UẤT NGÔN CHIÊU NÀN

Cung Tật Ách có Kình Dương, Đà La tất bị bịnh sát mòn gầy yếu có thái Tuế, Đà La thì bị tai họa về miệng tiếng, thị phi.

- ĐÀ NGỘ KỴ CHẲNG LÀNH CON MẮT KỴ PHÙNG DƯƠNG MỤC TẤT THONG MANH

Cung Tật Ách gặp Kình Dương, Đà La, Hỏa Kỵ, tất bị đau mắt có khi mù lòa.

- KÌNH DƯƠNG HỎA LINH OAI QUYỀN XUẤT CHÚNG; ĐỒNG HÀNH THAM VŨ ÁP BIÊN DI

Cung Mệnh an tại thìn, Tuất, Sửu, Mùi có Kình, Hỏa tọa thủ nên có uy quyền hiển hách n 871;u lại gặp Tham, Vũ đồng cung là người tài giỏi trấn nhậm biên giới khiến quân dịch phải khiếp sợ.

- MỆNH DƯƠNG ĐÀ GIA KIẾP THỌ GIẢM

Cung Mệnh có Kình hay đà tọa thủ nếu gặp Địa kiếp hoặc Kiếp Sát đồng cung tất tuổi thọ bị triết giảm.

- KÌNH HƯ TUẾ KHÁCH GIA LÂM MÃN TUẾ ĐA PHÙNG TANG SỰ

Cung Mệnh có Kình tọa thủ gặp Hư, Tuế, Khách hội hợp nên suốt đời gặp những chuyện phiền lòng ngang trái đàn ông phải khóc vợ, đàn bà phải khóc chồng hoặc phải xa cách cha mẹ, anh em.

- PHÚC TỌA THIÊN LA ƯU KIẾN SÁT, ĐÀ, KÌNH PHÁ HỎA, TANG, TỬ KIẾP THỊ NHƯỢC SUY CỐT TÁN TÀI HAO; XUẤT NGOẠI VÔ ÂM TỬ LÔ HẠNH LAI NHẬT NGUYỆT CƠ LƯƠNG XƯƠNG TUẾ: HỒNG BẬT DANH BA ĐINH TỬ QUÝ QUYỀN ; BẤT ĐẮC CHUYỂN ĐI

Cung Phúc đức an tại Thìn có Kình, Đà, Kiếp, Sát, Địa, Kiếp, Phá, Hỏa, Tang, Tử hội hợp tất hài cốt tiền nhân bị thất lạc tiền, tài hao hụt trong họ lại có kẻ lưu lạc chết nơi xứ người nhưng nếu được Nhật tọa thủ Nguyệt chiếu hoặc Cơ, Lương tọa thủ đồng cung Xương, Tuế hội hợp tất con cháu làm nên phát đạt danh tiếng lừng lẫy đời đời vinh hiển.

- KÌNH ĐÀ TƯƠNG GIÁP MỆNH PHÁ ĐIỀN TRẠCH Ư PHU QUÂN

Nữ số cung Mệnh xấu xa mờ ám lại giáp Kinh giáp đà tất phá tan cơ nghiệp nhà chồng.

- KIẾP KHÔNG PHỤC BINH PHÙNG DƯƠNG NHẬN LỘ THƯỢNG KIẾP ĐỒ

Cung Mệnh xấu xa mờ ám có Kiếp, Không tọa thủ gặp Phục Binh, Kình Dương hội hợp là phường côn đồ, kẻ cướp.

- MỆNH KIẾP THÂN KHÔNG NHI GIAO ĐỒNG NHÂN Ư TUẾ MỆNH LẠC CHÍNH TÌNH, TIỀN ĐỒ ĐA KHỔ NHI HỮU ÂM DƯƠNG, ĐẾ DIỆU MỆNH THÂN, CHUNG NIÊN PHÚC HỌANH SINH TÀI

Cung Mệnh có Chính Tinh lạc hãm tọa thủ gặp Kiếp đồng cung Thân có Không tọa thủ gặp Hồng Loan,Kình Dương hội hợp nên tiền vận phải vất và, nhưng nếu được Nhật, Nguyệt sáng sủa và Tử, Phủ hội hợp, Mệnh, Thân tất suốt đời được hưởng phúc, giàu sang hơn người.

- NGÁN THAY LỘC MÃ CÙNG LƯU, DƯƠNG ĐÀ KỴ NHIỆT MẤT ĐAU PHẢI PHÒNG

Lưu, Lộc Tồn, Thiên Mã gặp Kình Dương, Đà La, Hóa Kỳ, Thái Dương tất phải đề phònng bệnh đau mắt.

- LUẬN MỆNH TẮC SUY TINH THIỆN ÁC, CỰ PHÁ KÌNH DƯƠNG TÍNH TẤT CƯƠNG

Phàm xem Mệnh phải xem Sao thiện Sao ác như thế nào nếu có Cự Môn, Phá Quân hay Kình Dương tọa thủ là người hiên ngang can trường và anh hùng.

- Kình dương, Hỏa tinh oai quyền xuất chúng, đồng hành Tham, Vũ uy yếm ưu di. (Kình Dương ngộ Hỏa ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi hoặc Tham, Vũ, anh hùng xuất chúng, nhưng vẫn có người ghét)

- Văn Xương, Văn Khúc ở Nô bộc mà ngộ Kình, Đà, Thất Sát thì yểu tử.

- Cự, Hỏa, Kình Dương chung thân ải tử

- Phàm xem Mệnh người ta, phải xem sao thiện, sao ác thế nào nếu mà có các sao Kình Dương, Phá Quân và Cự Môn đắc địa thì tính nết người ấy tất hiên ngang, can trường và anh hùng.

- Mệnh Hàn Tín cư Ngọ Tướng Liêm Kình Dương ; hạn đến cung Thìn gặp Tham, Linh, Đà La bị Lã Hậu giết.

Kình Dương

Posted in Tử vi lý số on 24.03.2007 by Nhật ký tình yêu

SAO KÌNH DƯƠNGKình Đà là 2 sát tinh thường mang đến “tổn thất”. Khi gặp đủ bộ Tứ Sát thì lại phải đoán khác, và gặp Không Kiếp cũng lại phải đoán khác đi. Kình Dương hoá khí là “Hình” – biểu hiện phá hoại lực, có thể gây ra thất bại, có thể gây ra thị phi sau khi đã thành công.

Kình Dương phá hãm ví như một chân tiểu nhân! (là tiểu nhân nhưng có lòng quân tử) >Kình Dương hội Hoả tinh gây sức mạnh phản kháng không kém gì cách “Mã đầu đới kiếm” nơi cung Ngọ – vượt qua những khó khăn, gian khổ tột cùng để mà đến với thành công.

Từ xưa tới nay, ko hiểu do tam sao thất bản hay do thời cuộc ngày xưa khác ngày nay – những bậc nho gia uyên bác lý số đều cho rằng cách “Mã đầu đới kiếm” – tượng kiếm treo cổ ngựa (trảm) là cực độc, cực xấu – nói như vậy là chẳng hiểu gì: võ đoán, phiến diện và cực kỳ hồ đồ! Có người lại nói cách đó cực hung cho tuổi Bính – dễ xảy ra yểu tử, thảm tử, bất đắc thiện chung – lại thật càng ngông cuồng và ngu dốt trong cách truyền đạt tính CHÂN, THIỆN, MỸ của môn Khoa học Nhân Mệnh Tử vi! Có lý giải cho rằng tuổi can Bính hoá Tù – phạm phải sát khí nặng, khó tránh, khó giải, khó gỡ – nên tượng “Mã đầu đới kiếm” trở thành “bản án dựng sẵn” làm bao người lo sợ không yên – mà thực ra, lỗi chính ko phải do bản thân họ! Thử hỏi có bao người tuổi Bính??? Bao người có cách “Kình Dương cư Ngọ”? Họ yểu tử hết sao? Hình thương hết sao? Bất đắc thiện chung hết sao? Thất bại, đau đớn, gục ngã… hết sao? Vô lý! Xin tạm dừng đoạn tâm cảm trên để đi tiếp vào phần luận giải ý nghĩa Kình Dương và cách Kình Dương cư Ngọ.

Kình dương là một tình trạng phát triển thái quá. Còn mang tên gọi khác là Dương nhẫn – đầu mũi gươm xung kích, tiên phong. Kình dương vào Mệnh thì làm việc xông xáo không do dự, đã quyết tâm thì làm bằng được! Chỉ có điều, Kình dương có một sở đoản là khó tiếp thu ý kiến người khác, đôi khi trở thành hiếu thắng và thậm chí, ở một vị thế nào đó sẽ trở thành cao ngạo nên dễ sinh ra ăn nói sắc nhọn, thẳng mạnh đến mức dễ gây thù oán với người! Khi đã vào guồng luôn nhất tâm nhất trí đến mức có khuynh hướng cực đoan, tình cảm yêu với hận rõ ràng, ân với oán phân minh – như thế không hẳn lúc nào cũng tốt! Cổ nhân có câu: Tính hung ắt chiêu hung! Cái độc của Kình Dương bước đầu bắt nguồn từ đây!

Đến đây, ta hãy cùng bàn về vị trí của sao Kình dương. Kình dương bao giờ cũng đứng trước Lộc tồn, gọi bằng tiền Kình hậu Đà. Một số người đổi vị trí của Kình Đà theo tuổi Âm Dương Nam Nữ khi an lá số nhưng vẫn không thể đổi cách gọi “tiền Kình hậu Đà” – đó là xét theo hướng chuyển vận của vòng sao Bác sĩ (Lộc tồn) – xin tham khảo thêm về vòng Bác sĩ (Lộc tồn). Trong số Tử bình không có sao Đà la nhưng có Dương nhẫn – rất quan trọng. Tử vi căn cứ vào lý luận trên, không cách gì mà đổi ra tiền Đà hậu Kình, đổi như vậy lý Ngũ hành không còn đất đứng!

Lấy trường hợp tuổi Bính Mậu có Đồng Âm toạ thủ tại Mệnh, Đồng Âm ấy được Kình dương mới hay, nếu như lại là sao Đà la nằm chềnh ềnh ở đây thì thật khôi hài (tham khảo ý nghĩa Đà la). Câu phú: “Thiên Đồng Thái Âm cư Ngọ vị, Bính Mậu trấn ngự biên cương”. Phải tiền Kình hậu Đà thì tuổi Bính Mậu mới có Dương Nhẫn tại Ngọ được. (Đây chính là cách “Mã đầu đới kiếm trấn giữ biên cương” – vậy ai bảo Kình dương cư Ngọ là xấu?).

Như trên đã nói, Dương nhẫn là một tình trạng phát triển cao độ. Giáp Mộc – Lộc đóng Dần thì sự phát triển cao độ của Giáp Mộc phải vào mộc cung là Mão. Bính Hoả – Lộc đóng tại Tị thì tình trạng phát triển mạnh cũng phải ở nơi cung Hoả, như vậy Dương Nhẫn tất phải đóng Ngọ (đây chính là cách “Mã đầu đới kiếm” như đang đề cập đến).

Tương tự như vậy, Ất Mộc – Lộc tại Mão thì Dương nhẫn Thìn là Thuỷ Mộc khố, Đinh Kỷ – Lộc ở Ngọ thì Dương Nhẫn đóng Mùi hoả khố. Tân Kim – Lộc tại Dậu thì Dương nhẫn đóng Tuất Kim khố…

Sách Tinh Binh Hội Hải viết: “Giáp Lộc đáo Dần, Mão vi Dương Nhẫn, Ất Lộc đáo Mão, Thìn vi Dương nhẫn… Quý Lộc đáo Tí, Sửu vi Dương nhẫn…” ; “Lộc tiền nhất vị vi ‘Nhẫn’ nhân vi vạn vật chi lý giai ố cực thịnh, Lộc quá ‘Nhẫn’ sinh công thành đương thoái, bật thoái tắc quá việt kỳ nhân”. (Nghĩa là trước Lộc tồn một cung là Dương nhẫn bởi cái lý của vạn vật không thuận được với tình trạng thái quá, Lộc lên đến cực điểm thành hoại, công thành rồi hãy từ tốn lại, nếu cứ tiếp tục quá khích sẽ thất bại!) – Nhưng thử hỏi, trên đời này, có mấy ai hiểu được cái lý này? Hoặc hiểu được mà không thể làm theo triệt để – như thế là lẽ đương nhiên thôi. Với người Mệnh tốt, Thân tốt, Phúc tốt, sống tốt thì qua khỏi Hạn xấu; còn những người không được như thế, thử hỏi vào cái thế Kình Dương cư Ngọ có kiềm chế nổi mình không? Bản thân mình không còn phải là mình thì chuyện gì cũng có thể xảy ra được hết, dĩ nhiên, trong một Hạn xấu thì chuyện xấu là chủ đạo rồi!

Kình dương đắc địa thủ Mệnh Thân Tài Quan thì chắc chắn xương lớn nhưng không lộ cốt. (trường hợp bị Tuần Triệt có thể khác) Kình dương hãm thì gầy guộc xương lộ da như cam sành. Kình dương hợp với các cung tứ Mộ (Thìn Tuất Sửu Mùi) vì mộ cung có khả năng thuần hoá được tính phát triển quá mức của sao này. Kình dương ở tứ Mộ tuy đắc địa nhưng vẫn phải có cuộc đời phiêu lưu, bôn ba, trắc trở, xa cách người thân.

Kình dương đóng vào tứ Bại địa (Tí Ngọ Mão Dậu) nếu không kết hợp thành một cách riêng biệt như hội hợp với Đồng Âm, tính chất hình khắc nặng hơn, đáng ngại Nhất là Dậu, rồi đến Mão.

Riêng với nữ Mệnh có Kình Dương dù miếu địa cũng phải xem là “mỹ trung bất túc” vì nữ Mệnh đều an định êm đềm trong đời là điều chính yếu. Kình dương gặp Nhật Nguyệt, trai khắc vợ, gái khắc chồng. Kình Dương gặp Liêm trinh Hoả tinh ắt có ám tật hoặc tứ chi bị hình thương.

Sách vở Trung quốc có mấy câu đáng để ta suy ngẫm:

“Thiên tướng hãm phùng Dương mẫn, nữ nhân thi luỵ” nghĩa là Nam mạng Thiên tướng hãm địa gặp sao Kình dương thường bị đàn bà làm khổ (khổ vì tình).

“Hồng Loan Dương Nhẫn vị tình đoạn trường” nghĩa là số gái Hồng Loan gặp Kình dương dễ đi vào cảnh huống đoạn trường vì tình.

Có thuyết cho rằng Kình dương tượng trưng cho bộ sinh thực khí của đàn ông. Cổ nhân không nhắc đến Kình Dương gặp sao nào thì sức mạnh tình dục đi đến cực vượng nhưng có thuyết Thái Âm – Đà la (Đà la tượng trưng cho bộ sinh thực khí của đàn bà) là cách loạn dâm, ý chỉ sức mạnh tình dục đi đến đỉnh điểm!

Qua kinh nghiệm cho thấy Kình Đà vào Mệnh cung thường là con người thông minh. Kình đà đi cùng Xương Khúc khiến cho cái chất Văn của Xương Khúc tăng lên gấp bội. Như vậy Kình Đà liên quan tới sức mạnh tình dục là đúng rồi!

Kình Đà còn một cách cục khác mà sách Tử vi đẩu số không nói riêng ra là: Kình Dương độc thủ và Đà la độc thủ. (Mệnh VCD có hung tinh đắc địa độc thủ). Với cách này, Kình Dương có thể độc thủ ở tứ Mộ hoặc tứ Bại cung tuy nhiên chỉ tốt khi độc thủ ở tứ Mộ cung trong đó Sửu Mùi là đẹp hơn cả. Đứng ở Tí Ngọ Mão Dậu chủ về gây hung hoạ.

Kình Dương độc thủ vào số Nam hợp hơn số Nữ. Đà la thì ngược lại. Tuy nhiên, theo quan niệm ngày xưa thì số Nữ mà có Đà la đắc địa độc thủ vẫn ko đẹp đẽ gì. Ngày nay mọi sự đã đổi khác, có thể coi đó là cách cục hay nhưng chưa hẳn tốt!

Tại sao hay mà lại không tốt? Hay ám chỉ khả năng giỏi giang, toan tính mưu sự thành công nhưng không Tốt vì cuộc sống bôn ba, thăng trầm, gay go quyết liệt, thiếu an định, êm đềm. Kình Dương đắc địa độc thủ với Nam mạng hễ đã thành công thì thành công lớn vượt bậc thiên hạ, nhưng lúc chưa đạt thì vất vả, gian lao cũng dữ dội vô cùng. Kình Dương đắc địa độc thủ vào binh nghiệp, kinh doanh lớn, chính trị dễ sáng tạo nên sự nghiệp.

Lời mở đầu

Posted in Tử vi chân thuyên on 10.12.2006 by Nhật ký tình yêu

Nhà xuất bản Sống Mới xin trân trọng giới thiệu quyển sách “Chìa Khóa Tử Vi” của cụ Quản Xuân Thịnh. Một quyển sách cực quý. Có một không hai, vô tiền khoáng hậu. Xuất bản từ năm 1952 tại Hà Nội, đất nghìn năm văn vật, với một số lượng thật hạn chế. Trải qua bao nhiêu năm ly loạn, tưởng như đã thất truyền. May mắn thay! Cả nước Việt Nam còn sót lại được một quyển duy nhất.

Tất cả những bí quyết tâm huyết của Đệ nhất danh dư Tử Vi Việt Nam: Cụ Quản Xuân Thịnh (một ngôi Sao Bắc Đẩu về lý số, Tử Vi của nước Nam ta) được gói ghém trọn vẹn trong sách này. Quyển sách được đặt tên là “Chìa Khóa Tử Vi”.

Những quan niệm phổ biến về Tử vi

Posted in Tử vi chân thuyên on 04.12.2006 by Nhật ký tình yêu

Với đại đa số công chúng, Tử vi giống như một thứ đặc quyền chỉ dành cho một số ít người trong xã hội. Nói đến Tửvi thường thì người ta liên tưởng ngay đến những người lớn tuổi, biết chữ Hán, biết lễ nghĩa Nho giáo.Liên tưởng đó là có cơ sở. Tử vi giống như một môn toán thống kê (thống kê thể hiện ở sự tích luỹ và tổng kết những trường hợp, sự việc để đưa ra kết luận) và những tính chất của các sao trong Tửvi chủ yếu mang tính chất định tính chứ không phải định luợng rõ ràng: ví dụ khi sao Thai – Toạ đóng cung Điền trạch thì tiên đoán trước hình ảnh nhà cửa cao rộng nhưng cao bao nhiêu, rộng thế nào thì khó mà xác định được; Thiên mã là di chuyển nhưng di chuyển thế nào, bao xa thì cũng rất khó xác định. Nên bắt buộc người xem Tửvi phải nghiên cứu, tổng hợp được nhiều lá số, tích luỹ được nhiều kinh nghiệm mới có thể đưa ra những giải đoán chính xác – mà kinh nghiệm thường đi liền với tuổi tác. Kính trọng người già cũng là một truyền thống văn hoá của người Việt. Không bị giới hạn đối tượng và được kiểm chứng bằng kinh nghiệm của nhiều thế hệ nên tính đúng của Đạo Học thường khá cao.

Một lý do khác không kém phần quan trọng là do trước đây tài liệu bằng chữ quốc ngữ không nhiều. Với tâm lý vọng cổ của đại đa số những người nghiên cứu về văn hoá phương Đông, tôn trọng cổ nhân, tin tưởng tri thức của cổ nhân, thích được đọc sách cổ để hiểu sâu hơn về Tử vi. Nhưng phần lớn sách vở đó được viết bằng chữ Hán, để hiểu được, người nghiên cứu phải học chữ Hán. Biết chữ Hán còn đồng nghĩa với việc có thể đọc được nhiều tài liệu khác viết về Kinh Dịch, Tứ Trụ, Độn Giáp, Lục Hào, Tướng Pháp, Phong Thuỷ, Y học…..và đặc biệt là sách vở của Nho giáo. Từ đó ít nhiều do bị ảnh hưởng tư tưởng của Nho giáo nên những ông thầy Tử vi thường mang dáng dấp của một nhà Nho phong kiến. Những môn khoa học cổ phương Đông có chung nền tảng từ thuyết Âm – dương ngũ hành, vì vậy có sự tương đồng, liên quan với nhau nên họ thường thông thạo cả Nho, Y, Lý, Số làm cho mọi người càng thêm kính phục. Tuy nhiên có một vấn đề đáng quan tâm ở đây là có sự pha trộn kiến thức không hợp lý giữa các môn lý số. Việc tìm hiểu nhiều sẽ giúp cho người nghiên cứu có sự nhìn nhận khái quát hơn trong việc lý giải Tửvi nhưng cũng dễ dẫn đến tình trạng sử dụng kiến thức của nhiều môn khác để lý giải lá số Tửvi một cách gượng ép.

Vì biết nhiều môn nên khi dùng Tửvi mà không lý giải được nguyên nhân của sự việc, những người này không chuyên nhất theo đuổi khám phá những quy luật của Tửvi mà dễ dàng sử dụng Kinh Dịch, Tứ trụ hay Kỳ môn độn giáp để phụ đoán. Xuất phát từ mục đích khác nhau nên mỗi hệ thống khác nhau đều có cấu tạo khác nhau vì vậy chúng không dễ dàng trộn lẫn. Người có kiến thức uyên thâm thì sẽ thấy sự bất hợp lý và tìm được sự lý giải đúng, người khác thì sẽ cho rằng Tửvi có kỳ cách không rõ ràng hoặc là sẽ lý giải một cách chủ quan. Nhiều khi những người này giải đoán đúng không phải là do dùng Tửvi mà do sử dụng Bói Dịch, Tứ trụ, Độn Giáp hoặc là do cảm nhận chủ quan của cá nhân. Quan điểm sử dụng các quẻ Kinh Dịch áp vào lá số Tửvi để giải đoán là một sai lầm. Đây là hệ quả của việc coi Kinh Dich là “Quần thư chi thủ” (Quyển sách đứng đầu, bao trùm kiến thức của tất cả sách vở) . Tuy cùng xuất phát từ triết lý Âm dương nhưng Bát quái và Ngũ hành được hình thành từ hai hình thức tư duy khác nhau, tư duy tổng hợp biện chứng coi trọng mối quan hệ của các hiện tượng sự vật (ngũ hành) còn tư duy phân tích lí tính coi trọng các yếu tố của hiện tượng sự vật (bát quái). Nhưng tại sao nó lại vẫn có sự hợp lý. Hợp lý bởi vì chúng cùng phản ánh những điều tất yếu, mà đã là tất yếu thì tất nhiên là phải đúng. Giống như “mặt trăng”“moon”, cả hai đều phản ánh đúng một sự vật. Nhưng hình thức biểu diễn của tiếng Anh “moon” là ngôn ngữ biến hình còn “mặt trăng” của tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập. Khi áp dụng các quẻ Kinh Dịch để luận giải Tửvi là không hợp lý, vì hình thành trên nền tảng tư duy hoàn toàn khác nhau nên trong hệ thống tư duy của Tửvi chúng không tạo ra sự thống nhất – các sao trong lá số Tửvi không bao giờ được xem xét một cách độc lập như quẻ Dịch để xác định tính chất của nó mà luôn luôn được định hình trong mối quan hệ tổng hợp với nhau. Nếu sử dụng phương pháp này thì khó có thể lý giải chi tiết lá số Tửvi theo một hệ thống hoàn chỉnh. Chính sự đa phương tiện trong nghiên cứu là một nguyên nhân làm cho Tửvi trở nên khó hiểu. Hệ quả của những lý giải gượng ép làm sản sinh ra hàng loạt những câu phú vô nghĩa, không phản ánh đúng sự thật. Người tìm hiểu về Tửvi dễ bị lầm lạc khi nhận ra là cùng một sự việc Nhan Hồi chết yểu nhưng có đến cả chục câu phú đoán tồn tại:

Nhan Hồi yểu chiết, Văn xương hãm ư Thiên thương

(Đẩu số cốt tuỷ phú giải)

Nhan Hồi yểu tử do hữu Kiếp Không Đào Hồng Đà Linh thủ mệnh.

(Thái Vân Trình)

Kỵ tinh Xương Khúc đồng hương
Nhan hồi số ấy nghĩ thương anh tài
Sát (Thất sát) lâm tuyệt địa hội Dương – Đà Nhan hồi yểu chiết

(Thái Thứ Lang)

Nhan Hồi chết vì cách nào đây? hay là việc cho rằng cách này chỉ áp dụng với tuổi này, tuổi kia như:- “ Xương – Khúc sinh nhân Kỷ Tân Nhâm hạn Thìn – Tuất đáo đầu hà” người tuổi Kỷ, tuổi Tân, tuổi Nhâm mệnh có Văn xương, Văn khúc hạn đến cung Thìn, Tuất thì chết vì sông nước.

Sát Kình ở tại Ngọ cung,
Tai ương thảm khốc chờ trong cuộc đời.
Nhưng Giáp Kỷ là người cái thế,
Bậc anh hùng địa vị thênh thang.

(Tửvi thực hành – dịch lý huyền cơ)

Mệnh ở cung Ngọ có Thất Sát, Kình Dương thì trong cuộc đời phải gặp tai ương thảm khốc, có sách còn chú giải là chết chém. Nhưng nếu người tuổi Giáp, tuổi Kỷ thì lại là bậc anh hùng có địa vị lớn.

Liêm: Mùi Sửu cùng vì Thất Sát,
Tuy cang kiên nhưng chắc chết đường;
Nhưng mà Kỷ, Ât sinh nhân
Anh hùng trí dũng mười phần khá khen.

(Tửvi thực hành – dịch lý huyền cơ)

Mệnh ở cung Sửu, cung Mùi có Liêm trinh, Thất Sát tính khí kiên cường nhưng phải chết đường. Nhưng người tuổi Kỷ, tuổi Ât thì lại là anh hùng trí dũng song toàn.

Hoặc như việc đưa cả những kinh nghiệm của tín ngưỡng dân gian và những tổng kết của môn Tứ trụ vào Tử vi để giải đoán như: trẻ em sinh giờ “quan sát”, giờ “kim xà thiết toả” hay bị yểu chiết; mệnh Mộc sinh vào mùa xuân, mệnh Hoả sinh vào mùa Hạ, mệnh Kim sinh vào mùa thu, mệnh Thuỷ sinh vào mùa đông thì vượng; tuổi Dần, Ngọ, Tỵ, Dậu mà sinh giờ Thìn Tuất, Sửu, Mùi thì rất độc; tuổi Thìn, Tỵ, Sửu, Mùi sinh giờ Tí, Ngọ, Mão, Dậu, Tỵ Hợi , Thân thì khắc mẹ…

Những người đưa ra cách lý giải này đã thực sự không hiểu rằng tuy các môn khoa học cổ cùng được xây dựng trên một nền móng là thuyết Âm dương – ngũ hành nhưng vì để đạt được những mục đích khác nhau nên chúng phải có sự biến đổi cho phù hợp với hệ thống. Tửvi cũng hình thành từ lý thuyết âm – dương Ngũ hành nhưng những chi tiết biểu diễn này đã vượt qua cả sự định tính của Âm – Dương ngũ hành mà đã đạt đến lý tính, tức là dùng Lý để suy – Những tính chất Âm – dương ngũ hành của các thông số đầu vào là can – chi năm, tháng, ngày, giờ sinh khi qua hệ thống Tửvi đã được xử lý biến đổi thành hơn 100 sao có tính chất riêng không còn phụ thuộc vào tính chất của ngũ hành ban đầu, không phân biệt vào việc cá nhân sinh vào năm nào, giờ nào mà chỉ phụ thuộc vào kết cấu của các cung, các sao trong lá số – ví dụ dựa vào quy luật sinh khắc của Âm – Dương Ngũ hành để xác định vị trí của sao Thiên mã, nhưng Thiên mã trên lá số Tửvi không còn là kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ mà là xe, là ngựa, là sự di chuyển… . Nên khi không lý giải được tại sao cùng vào hạn Khoa – Quyền – Lộc có người thăng quan phát tài, có người thì lại gặp tai nạn rủi ro nên họ đã gán ghép cho đó là tại tính chất của ngũ hành Kim phạt Mộc, Hoả luyện Kim, hay Kim sinh Thuỷ…..thấy người được thăng chức có Hoá Quyền ở cung Thân, Dậu nên cho rằng Hoá Quyền có tính chất ngũ hành kim ở Thân, Dậu là lợi địa, còn cũng gặp hạn Hoá Quyền nhưng bị mất chức tai nạn nên cho rằng Hoá Quyền ở cung Tỵ, Ngọ là thất lợi vì hoả luyện kim. Nhưng cũng Hoá Quyền ở người khác nó lại là Mộc, hoặc có sách cho sao Linh Tinh có tính chất ngũ hành là Kim, sách khác lại cho là tính Hoả. “Mỗi sao có một hành riêng. Hành này góp phần tăng cường hay chế giảm ý nghĩa của sao. Một sao có hành tương hợp với cung toạ thủ thì đắc địa, tương khắc thì hãm địa. Đắc địa, sao sẽ mạnh nghĩa hơn. Hãm địa, ý nghĩa bị kém đi hoặc mất hẳn. Giữa hai sao cũng vậy, nếu gặp tương sinh về ngũ hành thì hai sao cùng đắc thế, ý nghĩa sao này phụ trợ cho ý nghĩa sao kia: nếu gặp tương khắc thì hai sao tương nghịch, ý nghĩa sao này làm giảm thiểu ý nghĩa sao kia. Thành thử sức mạnh của một sao không hoàn toàn phụ thuộc sao đó, mà còn lệ thuộc vào quy luật sinh khắc ngũ hành với cung và sao khác. Nhờ quy luật sinh khắc ngũ hành trong các sao, khoa Tửvi đã đẩy mạnh sự phân tích đến trình độ hết sức khúc chiết, đề cao sự tương quan giữa các yếu tố nhỏ, diễn xuất được những uẩn khúc vi tế hơn nữa của các yếu tố nhỏ ” (Tửvi tổng hợp – Nguyễn Phát Lộc)

….Cứ như vậy, mỗi người một kiểu lớp sau tiếp nối lớp trước và khi gặp sự khó khăn trong lý giải thì cho đó là “kỳ cách” (Cách cục kỳ lạ không lý giải được) hoặc sẽ lại ghép cho các sao một tính chất ngũ hành khác để cho phù hợp với sự lý giải có tính chủ quan của mình. Hoặc sáng tạo ra phương pháp Tự Hoá, hay như trường phái Thiên Lương cho rằng tuổi Nhâm có Hoá kỵ an cùng Tả phù, thậm chí như tác giả của cuốn sách “Tửvi thực hành” – Dịch lý huyền cơ – còn cho rằng “khoa Tửvi chỉ nhằm sắp đặt các vị tinh tú bao quanh thái dương trong một hệ luân chuyển của thời gian và không gian để tìm ra cái ảnh hưởng vận chuyển của nó đối tác động đến một con người” – Tửvi là sự tích hợp của nhiều môn chứ không hoàn toàn chỉ dựa trên Thiên văn học, có nhà thiên văn nào chỉ ra được trên bầu trời sao Hoá khoa, Hoá lộc, Hoá quyền và sao nào là của ông vua còn sao nào là của thường dân, tất cả chỉ mang tính biểu tượng. Hệ thống nào ít nhiều cũng có lỗi, nhưng lỗi hệ thống không phải nằm ở sự lý giải có tính chủ quan như vậy. Tuy còn nhiều hạn chế nhưng chính tác giả của “Tửvi tổng hợp”Nguyễn Phát Lộc cũng đã đề cập đến sự mâu thuẫn khi áp ngũ hành cho các sao “trong một cung , ít ra cũng phải có 6, 7 sao thuộc 5 hành khác nhau, tác động lẫn nhau và tác động với hành cung, tạo thành một liên hệ phản xạ chằng chịt, khiến cho nhiều người bị lạc vào mê hồn trận, kiểu như Bát quái trận đồ của Khổng Minh vậy. Ngũ hành tương sinh theo một vòng kín, không có khởi điểm: Mộc sinh Hoả, Hoả sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thuỷ, rồi Thuỷ trở lại sinh Mộc. Cái vòng đó cũng không có dứt điểm. Nó giống như một lối nói bình dân cho rằng “kỳ nhông là ông kỳ đà, kỳ đà là cha cắc ké, cắc ké là mẹ kỳ nhông”, rốt cuộc không biết con nào làm chúa. Cái vòng sinh khắc của ngũ hành cũng luẩn quẩn như vậy. Nó làm cho Tử vi khó đoán”.

Tư tưởng cho rằng Tử vi không thể đoán số cho người tu hành cũng là một sai lầm. Con người được hình thành từ vật chất, mà vật chất thì phải tuân theo những quy luật vận hành của vật chất. Nhà tu hành cũng là người, cũng được tạo nên từ xương, từ thịt, cũng phải ăn để sống nên cũng không thể thoát khỏi những quy luật sinh, lão bệnh, tử. Vạn vật trên Trái đất này đều phải chịu sự tác động của những quy luật vận hành trong trời – đất như nắng nóng – mưa lạnh, ban ngày thuỷ triều xuống – ban đêm thuỷ triều lên, nhảy lên cao phải rơi xuống thấp…, Những quy luật đó đã được con người xây dựng thành học thuyết Âm – dương ngũ hành – “thiên địa vạn vật nhất thể, vũ trụ làm sao con người làm vậy, con người là một tiểu vũ trụ, từ đó suy ra rằng các mô hình nhận thức đúng với vũ trụ cũng sẽ đúng cho lĩnh vực con người” – Tử vi được xây dựng từ nền tảng học thuyết Âm dương – Ngũ hành để lý giải cuộc sống con người, nên chỉ trừ khi thoát ra khỏi quỹ đạo của Trái Đất, thoát ra khỏi sự tác động của các quy luật vận hành của Trái Đất nhà tu hành mới thoát ra khỏi tầm kiểm soát của Tử vi.

Bây giờ ít người xem Tử vi còn thông thạo cả Nho, Y, Lý, Số, nhưng vì cuộc sống mưu sinh họ thường phục vụ kèm theo việc cúng bái, viết sớ, bày đặt chuyện dâng sao giải hạn hoặc cầu phúc, cắt tiền duyên, di cung hoán số một cách thái quá….tuyên truyền mê tín dị đoan hòng trục lợi nên càng làm cho Tử vi trở nên thần bí, khó hiểu trong con mắt của nhiều người.

Tính khoa học của Tử vi

Posted in Tử vi chân thuyên on 04.12.2006 by Nhật ký tình yêu

Dựa vào đâu Tử vi có thể đưa ra những thông tin dự đoán về số phận của con người ?Tửvi luận đoán số phận con người dựa vào các yếu tố Năm – Tháng – Ngày – Giờ, điều đó cho thấy thời điểm chào đời rất quan trọng đối với số phận của con người, khi đứa trẻ còn nằm trong bụng mẹ thì đứa trẻ đó nằm trong một môi trường khác (thế giới khác) so với khi chào đời. Vì vậy thời điểm khi chào đời là thời điểm một người tiếp xúc hoà nhập với môi trường xung quanh, đánh dấu một mốc quan trọng trong việc định hình một số đặc trưng của con ngưòi. Nhưng có một số điểm mâu thuẫn ở đây, đó là theo sinh học, một ngưòi hình thành và phát triển dựa trên ADN được kết hợp giữa bố và mẹ, ngoài ra thời kỳ hình thành các bộ phận của con người như mặt mũi, chân tay, bộ óc..v..v…còn phụ thuộc vào tâm lý của người mẹ, chế độ dinh dưỡng, môi trường, nhiệt độ..v..v..Như vậy phần lớn những yếu tố để hình thành nên diện mạo, trí thông minh của một con người đã được định hình từ khi còn là bào thai. Khi trưởng thành lại bị tiếp tục ảnh hưởng bởi các yếu tố như: chế độ dinh dưỡng, cha mẹ, nền giáo dục, anh em – bạn bè, môi truờng tự nhiên, môi trường xã hội….mà những yếu tố trong tương lai này lại không thể tác động đến thời điểm sinh trong quá khứ. Như vậy thì thời điểm sinh của con ngưòi không có ý nghĩa quyết định đến diện mạo, tính cách cũng như không thể là yếu tố để xác định vận hạn tương lai và một số đặc điểm khác để hình thành nên con người.

Như vậy, các yếu tố mấu chốt ảnh hưởng đến tương lai của một người:
- Tướng mạo: quyết định bởi các yếu tố di truyền, dinh dưỡng, môi trường…
- Tâm tính: quyết định bởi sự di truyền, xã hội, giáo dục, môi trường
- Trí tuệ : quyết định bởi tính di truyền, giáo dục.
- và môi trường sống thời bình thời chiến , yếu tố xã hội, chính sách kinh tế chính trị……

Những yếu tố kể trên chẳng có quan hệ gì với thời điểm sinh, vậy các phương pháp giải đoán số mệnh dựa trên một nguyên tắc nào hay chỉ là do kinh nghiệm tích lũy? Tửvi căn cứ vào quy luật nào? Tại sao thời khắc sinh ra lại đeo đuổi con người cả đời và “can thiệp” vào đủ mọi chuyện lớn nhỏ trong cuộc sống? Tại sao những đường nét cơ thể (tướng số) lại cho ta biết không chỉ đặc tính bẩm sinh mà cả thời vận nữa (là những yếu tố bên ngoài đem lại ), trong khi tương lai vẫn còn đang ở phía trước?

Để trả lời được những vấn đề trên, thì chúng ta cần phải phân tách rõ ràng quan niệm về số phận con người theo hai hệ thống của khoa học hiện đại và khoa Phương đông cổ. Ta sẽ thấy vấn đề cũng không quá phức tạp, vì trong mỗi một hệ thống khoa học có đều có những nguyên tắc riêng. Khoa học cổ (thuyết Âm dươngNgũ hành) xác định vạn vật từ con người, môi trường xã hội, môi trường tự nhiên….đều được hình thành từ 5 dạng vận động cơ bản (trong đó bao gồm 5 loại vật chất cơ bản là kim loại, đất, gỗ, lửa, nước) có quy luật vận động âm – dương rõ ràng là KimMộc – Thuỷ – HoảThổ. Theo sự xác định của khoa học hiện đại con người được cấu tạo từ nhiều loại vật chất hữu hình trong môi truờng Trái đất như sắt, magie, cácbon, canxi…và chịu sự tác động của những quy luật vận động của môi trường tự nhiên, xã hội, đây là việc đã được chứng minh bằng thực nghiệm và để dự đoán được cuộc sống của một con người cần phải có đủ các dữ kiện về không gian, thời gian, yếu tố di truyền. Nhưng theo học thuyết âm dương Ngũ hành, vạn vật đều được cấu thành dựa trên 5 dạng vận động cơ bản, chỉ cần dựa trên việc nghiên cứu quy luật vận động của 5 dạng vận động này mà người ta có thể dự đoán được xu hướng vận động của vạn vật. Con người cũng được hình thành từ Ngũ hành, nên cũng có thể dự đoán được số phận dựa trên việc nghiên cứu sự vận động của Ngũ hành. Tử vi hình thành trên nền tảng của học thuyết âm – dương Ngũ hành nên với Tử vi, không cần phải xác định ADN, giáo dục, xã hội…. một cách cụ thể như khoa học hiện đại chỉ cần xác định chính xác dữ kiện về mặt thời gian cấu thành kết quả của Ngũ hành (thời điểm con người ra đời) là đủ. Tất cả những yếu tố cần thiết đã được biểu tượng hoá bằng các “sao” trên lá số Tửvi theo những quy luật vận hành nhất định, dựa trên việc nghiên cứu quy luật vận hành của các sao để dự đoán số mệnh con người.

Bất cứ hiện tượng sự vật nào cũng đều có nguyên nhân và kết quả, không phải tự nhiên mà một người xuất hiện. Khi một cá nhân được sinh ra vào một thời điểm nhất định thì đó phải là kết quả tương tác của cả một quá trình hun đúc trong nhiều ngày tháng của cha mẹ, dòng họ, nhà cửa, mồ mả, phúc đức, của môi trường xã hội, của môi trường tự nhiên, của điều kiện vật chất, yếu tố di truyền….Những yếu tố âm dương ngũ hành thể hiện trong lá số Tử vi được xác lập dựa trên những dữ kiện về mặt thời gian năm – tháng – ngày – giờ sinh chính là hệ quả của cả một quá trình tương tác của những yếu tố âm dương ngũ hành đã tồn tại từ trước đó rất lâu (theo học thuyết âm dương Ngũ Hành thì kể cả những yếu tố về mồ mả, phúc đức, di truyền, môi trường tự nhiên, mô trường xã hội…tất cả đều được quy về tính chất của âm – dương Ngũ Hành) và chỉ khi hội tụ đầy đủ thì vào một thời điểm nhất định mới tạo ra được kết quả. Và từ việc nắm bắt những quy luật vận động của vật chất mà ở đây là ngũ hành người ta đã dựa trên những yếu tố cấu thành nên kết quả đầu tiên (cá nhân) để xác định ngược những nguyên nhân tạo thành và tiếp tục dự đoán xu hướng vận động của chúng (cuộc đời sau này).

Vậy Tửvi có thực sự là môn khoa học theo như cách định nghĩa của khoa học hiện đại hay không? Mặc dù Tửvi có tính hệ thống, có phương pháp làm việc, có dự đoán chính xác, nhưng hiện nay con người vẫn chưa chứng minh được sự khoa học (Triết học hiện đại định nghĩa, “Khoa học” vừa là một hình thái ý thức xã hội, vừa là một dạng hoạt động, một công cụ nhận thức. Mỗi một môn khoa học phát triển phải bao gồm 4 yếu tố cơ bản: tri thức kinh nghiệm, tri thức lý giải, phương pháp cách xử lý, giả thuyết và kết luận.) của học thuyết “âm – dương Ngũ Hành“ học thuyết sử dụng để giải thích bản chất của vũ trụ và con người được tổng hợp từ những kinh nghiệm trong cuộc sống của cư dân có nền văn hoá gốc nông nghiệp, nền tảng nên môn Tửvi. Và chính bản thân môn Tửvi cũng có nhiều hạn chế. Theo thống kê, với hơn 100 sao phân bố trên 12 cung cố định chúng ta chỉ thành lập được hơn 50 vạn lá số là không trùng nhau, một con số quá nhỏ, trong khi thế giới có hàng tỷ ngưòi không giống nhau. Tửvi chưa thực sự được chứng minh một cách có hệ thống là khoa học. Vì muốn đưa ra được dự đoán đúng, điều quan trọng là phải xây dựng được mô hình đúng. Muốn xây dựng mô hình đúng thì phải có đầy đủ dữ kiện. Con người tồn tại trong không gian, thời gian và thừa hưởng các tính cách đặc điểm di truyền; vì vậy một hệ thống tối thiểu phải mô hình hoá được 3 điều kiện đó. Nhưng Tửvi mới chỉ mô hình hoá được một thông số duy nhất là thời gian (năm, tháng, ngày, giờ sinh). Tửvi cũng chưa giải quyết được vấn đề những người sinh cùng giờ, để giải quyết được hạn chế này, phụ thuộc rất nhiều vào sự nhạy cảm mang tính cá nhân của người luận giải khi cân nhắc những sự việc trong quá khứ để đo lường ảnh hưởng kết hợp của âm – dương ngũ hành rồi đưa ra luận đoán cho tương lai. Nên rất khó khẳng định Tửvi là khoa học theo như định nghĩa của Triết học hiện đại. Hiện nay chúng ta chỉ chứng minh một cách gượng ép Tử vi là khoa học bằng lý luận chắp nhặt mà chưa giải thích được tính chính xác của Tử vi. Khi sử dụng Tửvi có thể đưa ra dự đoán những sự kiện xảy ra trong cuộc sống của con người, thậm chí cả sau khi đã chết (ví dụ: mệnh chính tinh hãm địa lại gặp Lưu hà, Kiếp sát, Hoá kỵ, Địa kiếp thường sau khi chết còn bị mổ). Chính vì vậy nó vẫn mang màu sắc của sự thần bí. “Tử vi là khoa học” chủ yếu xuất phát từ lòng tin được hình thành qua kinh nghiệm kiểm chứng thực tế. Khoa học khác với lòng tin, chính vì vậy không thể coi Tử vi là một môn khoa học như toán học, vật lý, hình học.

Một nhà triết học thời Cổ đại đã từng nói rất đúng “không có ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông”. Con người là một thực thể luôn luôn vận động thay đổi từng ngày từng giờ, theo từng thời kỳ tiến hoá. Vì vậy không thể đưa ra một định luật, hay một công thức chung để dự đoán chính xác đến từng chi tiết cuộc sống cuộc sống của con người, mà chỉ có thể đưa ra những quy luật, những nền móng cơ bản mang tính chất khái quát còn muốn dự đoán chính xác hơn thì tuỳ theo từng thời kỳ, từng hoàn cảnh những phần chi tiết phải có sự biến đổi cho phù hợp. Tử vi cũng vậy.

Mỗi bài toán đều có thể có nhiều phương pháp lý giải miễn sao đi đến kết quả đúng. Sự phù hợp với thực tế cuộc sống đã giúp Tửvi tồn tại và phát triển với thời gian của lịch sử mặc dù phải trải qua nhiều thăng trầm, biến cố. Mọi sự việc, sự vật đều có quy luật vận động, vấn đề quan trọng là có khám phá ra được những quy luật đó hay không. Con người là một thực thể đặc biệt nhưng cũng chịu tác động từ những quy luật vận động của thế giới mình đang sống và được cấu thành từ vật chất tất cũng có quy luật vận động riêng (kết quả của sự vận động này là điều mà ta gọi là số mệnh). Tửvi là một trong những phương pháp khám phá những quy luật vận động của con người dựa trên thuyết âm – dương Ngũ hành nên Tửvi cũng có thể dự đoán số mệnh của con người bằng những quy luật đã nhận biết được. Nhưng vì chưa được chứng minh bằng thực nghiệm mà mang nặng ”tính đúng” (Vì không được biện luận, chứng minh nên tri thức đạo học có nhược điểm là sức thuyết phục thấp, nhưng bù lại nó bao giờ cũng được diễn đạt ngắn gọn, súc tích – tính thâm thuý của Đạo Học từ đó mà ra. Thêm vào đó, do được hình thành một cách tự nhiên) của Đạo học Phương Đông nên vẫn còn nhiều bí ẩn.

Thường những gì mắt nhìn thấy, tai nghe được hoặc xúc giác cảm nhận được thì bộ não tin (và con người tin) nhưng thực tế có những sự việc xảy ra ngoài khả năng tính toán của não bộ nên con người mới có khái niệm “số phận“. Một bộ não khó tính toán hết những vấn đề nhưng tổng hợp tinh hoa trí tuệ của nhiều người thì cũng có thể giải quyết được những vấn đề của “số phận“, Tử vi chính là một phương pháp tập trung tinh hoa trí tuệ của nhiều người qua nhiều thế hệ để nhận biết những quy luật của “số phận“, để dự đoán những sự việc xảy ra ngoài khả năng tính toán của một bộ não.

Tính cách và số mệnh

Posted in Tử vi chân thuyên on 02.12.2006 by Nhật ký tình yêu

 

 

Trong cuộc sống đôi khi chúng ta thường hay gặp những câu hỏi như: “con người có số mệnh hay không?”, “số mệnh từ đâu mà có ” hay “có thể thay đổi được số mệnh hay không?”. Để lý giải một cách rõ ràng những câu hỏi như thế này quả thật không phải là dễ. Bởi vì nếu con người sinh ra đã được định sẵn trong một khuôn hình của tạo hoá thì thật là vô lý. Như vậy sẽ không cần lao động, không cần suy nghĩ, số mệnh đã an bài thì tất mọi việc tự nhiên sẽ đến. Giàu có số, nghèo có số cố gắng cũng chẳng thay đổi được. Phàm mệnh nghèo, dù có để cho người đó được giàu sang thì cũng không được hưởng. Mệnh giàu sang thì dù có bắt nghèo khó lại sẽ gặp giàu sang. Nói như thế là tuyên truyền thiên mệnh không thể thay đổi, là chủ trương giàu nghèo do mệnh định đoạt, người nghèo thì cam chịu mệnh nghèo, còn người giàu cứ ung dung nhàn hạ thụ hưởng sự sung sướng?. Số làm Thủ tướng đợi đến ngày, đến giờ sẽ được phong chức Thủ tướng?. Hiểu như thế là sai lầm.

 

 

Sự thật hiển nhiên, nếu không suy nghĩ, không ham muốn, không lao động thì không có thành công. Bằng cách này hay cách khác con người vẫn luôn luôn phải làm việc, suy nghĩ để tồn tại và phát triển chứ không thể đợi số phận đưa đến. Để được làm Thủ tướng phải có tham vọng, phải tham gia hoạt động chính trị, phải cống hiến cho xã hội. Không ai tự nhiên sinh ra đã là kỹ sư, bác sỹ hay Thủ tướng. Chúng ta có thể khẳng định rằng không có số mệnh định sẵn. Như vậy sẽ có một câu hỏi khác được đặt ra, “nếu con người không có số mệnh, không tuân theo một quy luật nhất định thì tại sao những môn dự đoán học như Tử vi lại có thể dựa trên quy luật âm – dương ngũ hành để dự đoán chính xác được những sự việc xảy ra trong cuộc sống một con người?”.


Trước khi nói về Tử vi, tôi xin lạm bàn đôi lời về câu ngạn ngữ phương Tây khi lý giải về số phận của con người “gieo ý nghĩ được hành vi, gieo hành vi được thói quen, gieo thói quen được tính cách, gieo tính cách được số phận”- một sự lý giải rất lôgic, rất khoa học và hoàn toàn hợp lý. Môi trường xã hội, môi trường tự nhiên qua các mối quan hệ, qua các hoạt động giao tiếp, các hành vi ứng xử, các nhu cầu của cuộc sống hàng ngày, hàng giờ luôn luôn gây ảnh hưởng, tác động đến con người và ngược lại con người cũng tác động trở lại những môi trường đó theo cách riêng của mình. Từ sự tác động qua lại đó dần dần sẽ tạo ra những kết quả tương xứng và hình thành nên số phận của mỗi người. Một người lạc quan mạnh mẽ khi nhìn một nửa cốc nước sẽ nói “cốc nước vẫn còn một nửa”, trèo lên lưng chừng dốc sẽ nói rằng ” sắp đến rồi, chỉ còn một nửa quãng đường nữa thôi”. Ngược lại, người yếu đuối, bi quan trong những trường hợp đó sẽ nói ” chỉ còn một nửa cốc nước” hay ” mới đi được một nửa quãng đường, còn lâu mới đến”. Hoặc khi gặp khó khăn cản trở một người kiên quyết làm cho xong, một người bỏ dở giữa chừng. Cứ như vậy, cuộc đời của hai người ngày càng tách xa theo hai hướng khác nhau. Người lạc quan mạnh mẽ sẽ hoà nhập và lôi cuốn được những người có cùng phong cách sống vì “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”, đó sẽ là một môi trường sôi động, vui vẻ. Mọi người xung quanh thấy được ở anh ta nguồn sức mạnh dồi dào có thể đương đầu được với mọi khó khăn gian khổ, như vậy anh ta sẽ là ứng cử viên sáng giá của ngôi vị lãnh đạo. Người yếu đuối bi quan, nhìn việc gì cũng chỉ thấy khó khăn, thất bại sẽ không thể cùng với mọi người làm việc lớn, khi gặp khó khăn anh ta sẽ là người đầu tiên rut lui, mọi người sẽ không tin tưởng vào anh ta. Càng ngày anh ta càng bị thu hẹp cơ hội thăng tiến, thu hẹp không gian sống. Ví dụ cụ thể như cùng rơi vào trạng thái buồn chán có người chọn biện pháp tự tử; có người uống rượu say, quậy phá rồi bị bắt; có người đi câu cá và trong lúc ngồi một mình suy nghĩ về sự việc đã tìm ra đường đi sáng sủa hơn; có người lại rủ bạn bè đi chơi cho quên sự buồn chán và trong chuyến đi họ đã vô tình tạo dựng được những mối quan hệ tốt đẹp để gây dựng sự nghiệp. Cũng là một sự việc nhưng với những tính cách khác nhau đã quy định những hành động khác nhau để cuối cùng tạo ra những số phận khác nhau. Những người không biết đối nhân xử thế kìm nén sự nóng giận, sẽ khiến người trên ghét bỏ, người dưới xa lánh. Hay như Khổng Tử nói: “có ba loại chết không phải do mệnh: thứ nhất, không nghỉ ngơi đúng lúc, đầy đủ; không ăn uống điều độ; lao lực quá độ dẫn đến bệnh tật mà chết. Thứ hai là thân thấp hèn mà hay phạm thượng; nghiện ngập vô độ; tham lam vô đáy, đó là bị hình phạt mà chết. Thứ ba, người yếu đuối mà lừa dối xúc phạm kẻ mạnh hơn, người không tự lượng sức mình hay giận dữ, thường chết vì binh khí”. Còn nhiều ví dụ thực tế quan sát được trong cuộc sống hàng ngày chứng minh và như vậy chúng ta không thể không đồng tình với nhau rằng số phận do tính cách tạo ra.

Trở lại cội nguồn của tính cách, đó chính là ý nghĩ. Ý nghĩ được hình thành từ những hoạt động trong môi trường sống, từ sự giáo dục. Ở trong nhung lụa và bơ sữa những người giàu có sẽ không biết được cảm giác thi vị của cuộc sống khi được ăn bát cơm nóng, hay bị hoa mắt vì đói mềm người và giá lạnh. Người giàu luôn sợ chết vì chết sẽ không còn được hưởng sự sung sướng. Quan tham đã có đủ mọi thứ thì lúc nào cũng lo sợ bị tố cáo, bị trị tội vì vậy phải che đậy bằng mọi cách. Những ý nghĩ đó luôn ám ảnh trong đầu họ và khi cơ hội đến nó sẽ biến thành hành động. Còn người càng nghèo thì càng không sợ chết, càng nghèo càng chịu nhiều vất vả, khổ cực, vì cuộc sống mưu sinh, không có thời gian để tưởng tượng quá nhiều về cái chết. Trong đầu họ chỉ có ý nghĩ mong sao có thật nhiều tiền để đỡ phải khổ. Cho nên tục ngữ đã có câu : “quan hỏi hình phạt, giàu hỏi tai nạn, dân thường hỏi về phát tài”. Để hướng thiện, hãy cho đứa trẻ một nền giáo dục tốt. Nền giáo dục tốt ở đây không có nghĩa là phải có điều kiện vật chất đầy đủ, trang thiết bị hiện đại, môi trường đẹp hay những giáo viên tài giỏi mà trước tiên chỉ cần những hành động, cử chỉ đẹp, những quyển sách hay với ngôn từ trong sáng, hướng thiện, những bản anh hùng ca của dân tộc có hình tượng của những con người cống hiến sức mình vì dân, vì nước. Những hành động tưởng chừng như đơn giản nhưng dần dần một cách vô thức thân thể của đứa trẻ sẽ thấm nhuần đến từng tế bào, từng mạch máu, những ý nghĩ, những hình ảnh đẹp về cuộc sống, về con người. Và như vậy một chuỗi mắt xích hành vi, thói quen, tính cách sẽ được hình thành. Số phận cũng sẽ được hình thành từ đây. Như Hồ Chủ Tịch đã từng nói “Con người phần lớn do giáo dục mà thành”.

 

Khi nhận định về cuộc sống của một con người bằng những công cụ và phương pháp tư duy hiện đại đại đa số chúng ta không cần dùng đến Tử vi mà thường dựa trên cơ sở của việc phân tích tính cách, sức khoẻ, giáo dục, nền tảng gia đình, môi trường sinh sống và những quy luật vận động của xã hội……để đưa ra những kết luận có tính thuyết phục cao bởi sự tư duy lôgic tuân thủ những quy luật khách quan đã được khoa học và triết học hiện đại chứng minh sự đúng đắn như: có chí làm quan, có gan làm giàu; lợi nhuận cao thì rủi ro lớn; có thực mới vực được đạo; đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu; lượng đổi chất đổi, bản chất hai mặt của một vấn đề…..

Lời nói đầu

Posted in Tử vi chân thuyên on 02.12.2006 by Nhật ký tình yêu

Khoa học dự đoán là một bài toán đã làm cho cả thế giới quan tâm. Từ thời thượng cổ, nước nào cũng có khoa dự đoán. Ngày nay những nước có khoa học công nghệ phát triển như Pháp, Mỹ, Nhật cũng vẫn tồn tại những phương pháp bói toán thậm chí còn được hỗ trợ bởi những phép toán cao cấp, trang thiết bị hiện đại như máy vi tính, mạng Internet. Nhất là ở Trung Hoa, phong trào dự đoán theo Chu Dịch đang phát triển rầm rộ và lan ra cả nước ngoài. Tìm hiểu cuộc đời là nhu cầu tự thân của con người, nó không giới hạn trong bất cứ tầng lớp nào, bao gồm cả quan chức, công nhân, trí thức, doanh nhân, học sinh, sinh viên…và là một phần tất yếu của xã hội. Cuộc sống hàng ngày, phải đối mặt với nhiều khó khăn, trắc trở, hoặc với sự thành bại mà đôi khi phải đánh đổi bằng cả sự nghiệp, tính mạng, con người không còn đủ lòng tin vào những tính toán của bản thân. Không có chỗ dựa chắc chắn họ tìm những nơi thờ tự linh thiêng, những người bói toán, để có được những sự động viên an ủi về mặt tinh thần, củng cố thêm lòng tin vào sự thành công, hoặc có hướng hành động phù hợp với thực tế.

Hiện nay, Tửvi với tư cách là một môn dự đoán chính xác đang được nhiều người quan tâm nghiên cứu. Cuốn sách Tử vi chân thuyên (chân: chân thực; thuyên: giản lược) đã ra đời nhằm góp thêm vào nỗ lực nghiên cứu chung của cộng đồng. Với tư duy đơn giản, trên nền tảng chọn lọc và phát triển tinh hoa sách vở của những người đi trước kèm theo phân tích nhiều lá số hiện thực, quyển 1 sách “Tửvi Chânthuyên” sẽ giúp các bạn hiểu rõ về Tửvi, phương pháp luận giải chính xác một lá số, từ đó sẽ giúp các bạn có thêm sự tự tin trong cuộc sống hoặc tham gia vào việc phát triển sâu hơn môn Tửvi.Quyển sách này cũng sẽ cố gắng góp phần làm sáng tỏ ý kiến cho rằng Tử vi là sản phẩm văn hoá của người Việt. Giải thích được nguồn gốc những câu nói giống như một sự đúc kết kinh nghiệm “gặp nạn lớn mà không chết ắt có phúc”, “tuổi trẻ thành đạt sớm quá dễ bất lợi ở tuổi trung niên”; hiểu được những sai lầm của một số người nghiên cứu Tửvi từ đó thanh thản loại bớt một số sách vở không có giá trị. Và cuối cùng là để ứng dụng nó vào trong các lĩnh vực của cuộc sống như quan hệ xã hội, kinh doanh hay quản lý con người.

Vì khả năng chưa cho phép, chắc chắn rằng trong phạm vi quyển sách này chúng tôi sẽ không tránh khỏi những hạn chế. Kính mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các bạn. Xin chân thành cảm ơn những người bạn đã giúp chúng tôi hoàn thành quyển sách này.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.